Thứ Sáu, ngày 17 tháng 7 năm 2009

Tài liệu tập huấn hè 2009 - GDCD THCS


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO



TÀI LIỆU TẬP HUẤN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC CƠ SỞ




Hè 2009

ĐẶNG THÚY ANH - NGUYỄN THỊ THANH MAI
HÀ NHẬT THĂNG - LƯU THU THỦY



TÀI LIỆU TẬP HUẤN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC CƠ SỞ






Hè 2009
PHẦN THỨ NHẤT
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHÓA TẬP HUẤN

I. Mục tiêu khóa tập huấn
Sau khóa tập huấn này, học viên có khả năng:
1. Về kiến thức
- Hiểu được bản chất việc đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân (GDCD) trường Trung học cơ sở (THCS).
- Hiểu được đặc trưng của việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của học sinh (HS) THCS.
- Hiểu được yêu cầu và quy trình thực hiện tập huấn ở địa phương
2. Về kĩ năng
- Hiểu được cơ sở của việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD THCS ở trường, lớp mình phụ trách.
- Có kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS.
- Có kỹ năng tổ chức tập huấn cho các đồng nghiệp ở địa phương về các kiến thức và kĩ năng đã được tập huấn.
3. Về thái độ
- Nâng cao nhận thức vê việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD và đổi mới đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS THCS.
- Tự tin trong việc tập huấn lại cho các đồng nghiệp ở địa phương về đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THCS và đổi mới đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS THCS.
II. Nội dung tập huấn
1. Đặc trưng môn GDCD ở THCS
2. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở THCS
2.1. Một số thuật ngữ: Phương pháp dạy học (PPDH), Đổi mới PPDH
2.2. Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD ở THCS
2.3. Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD ở THCS
3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS THCS
3.1. Một số thuật ngữ: Hiểu bản chất một số thuật ngữ: Đánh giá, đánh giá chất lượng dạy học, đánh giá kết quả học tập của HS
3.2. Mục đích của việc đánh giá kết quả học tập của HS
3.3. Các hình thức đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS
3.4. Lực lượng tham gia đánh giá kết quả học tập môn GDCD
3.5. Hướng dẫn cách ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD
4. Hướng dẫn tập huấn ở địa phương
4.1. Các hoạt động trước tập huấn
4.2. Tiến hành tập huấn
4.3. Các hoạt động sau tập huấn
4.4. Một số kĩ năng tập huấn
III. Phương pháp tập huấn
Lớp tập huấn sẽ được tiến hành theo phương pháp cùng tham gia. Điều đó có nghĩa là trong quá trình tập huấn, học viên (HV) sẽ được tạo cơ hội tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, cùng chia sẻ những suy nghĩ, ý kiến, kinh nghiệm của bản thân, để thông qua đó với sự hướng dẫn, giúp đỡ của các giáo viên (GV), HV sẽ cùng nhau xây dựng và chiếm lĩnh được các nội dung tập huấn.
Lợi ích của phương pháp tập huấn cùng tham gia :
- HV sẽ tích cực, tự giác, hứng thú học tập hơn
- Tăng cường sự tương tác giữa HV với HV, HV với GV
- HV sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu kiến thức
Một số phương pháp tập huấn cụ thể :
- Động não
- Nghiên cứu tài liệu
- Thảo luận nhóm, thảo luận lớp
- Thuyết trình
- Thực hành
- Trò chơi
IV. Chương trình tập huấn

Thời gian
Nội dung tập huấn
Phương pháp
Ngày thứ nhất


8.00- 8.10
Khai mạc

8.10- 8.30
Giới thiệu làm quen
Giới thiệu theo đoàn từng địa phương
8.30- 9.45
Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực
Thuyết trình
9.45-10.00
Giải lao

10.00-10.30
Báo cáo về hoạt động ngoại khoá Singapore
Thuyết trình
10.30-11.30
Giới thiệu mục tiêu, ND, PP tập huấn
Thuyết trình
11.30- 14.00
Nghỉ trưa

14.00- 15.00
I. Đặc trưng môn GDCD
Thảo luận nhóm
Thuyết trình
15.00- 15.20
II. Đổi mới PPDH môn GDCD THCS
2.1.Một số thuật ngữ cơ bản


Động não
Thuyết trình
15.20- 15.40
2.2 Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS

Tự nghiên cứu tài liệu
Giải đáp thắc mắc
15.40- 16.00
Giải lao

16.00- 17.00
2.3. Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
Thảo luận nhóm
Thuyết trình
Ngày thứ hai


8.00- 9.30
Thực trạng việc đổi mới PPDH ở địa phương; nguyên nhân và giải pháp
Thảo luận theo nhóm địa phương
9.30- 9.50
Giải lao

9.50- 10.10
III. Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục công dân
3.1. Một số thuật ngữ

Động não
Thuyết trình
10.10- 10.25
3.2. Mục đích đánh giá
Động não
Thuyết trình
10.25- 11.30
3.3. Các hình thức đánh giá
Thảo luận nhóm
Liên hệ
11.30- 14.00
Nghỉ trưa

14.00- 14.15
3.4. Các lực lượng tham gia đánh giá
Thảo luận nhóm
Liên hệ
14.15- 17.00
3.5. Hướng dẫn cách ra đề kiểm tra, đánh giá
Thuyết trình
Hỏi đáp
Ngày thứ ba


8.00- 11.30
Thực hành ra đề kiểm tra, đánh giá
Làm việc theo nhóm
11.30- 14.00
Nghỉ trưa

14.00- 15.15
Hướng dẫn thực hiện tập huấn ở địa phương và thực hành lập kế hoạch tập huấn tại địa phương
Thuyết trình
Hỏi đáp
15.15- 15.30
Giải lao

15.30- 16.15
Báo cáo về tiêu chí đánh giá phong trào thi đua THTT-HSTC
Làm việc theo nhóm địa phương
16.15- 17.00
Tổng kết
Đánh giá khóa tập huấn
Bế mạc

Viết phiếu đánh giá cá nhân

PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG TẬP HUẤN

I. Đặc trưng môn GDCD ở THCS
1.1. Mục tiêu của môn GDCD ở THCS được xác định trong chương trình là:
a) Về kiến thức :
- Hiểu được những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phổ thông, thiết thực phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS trong các quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc và học tập, với môi trường sống (có môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội) với lí tưởng của cộng đồng.
- Hiểu ý nghĩa của các chuẩn mực đối với sự phát triển cá nhân và xã hội; sự cần thiết phải rèn luyện và cách thức rèn luyện để đạt các chuẩn mực đó.
b) Về kĩ năng :
- Biết đánh giá hành vi của bản thân và mọi người xung quanh; biết lựa chọn và thực hiện cách ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, pháp luật, văn hóa xã hội trong giao tiếp và hoạt động (học tập, lao động, hoạt động tập thể, vui chơi giải trí...).
- Biết tự tổ chức việc học tập và rèn luyện bản thân theo yêu cầu của các chuẩn mực đã học.
c) Về thái độ :
- Có thái độ đúng đắn, rõ ràng trước các hiện tượng, sự kiện trong đời sống hàng ngày; có tình cảm trong sáng, lành mạnh đối với mọi người, đối với gia đình, nhà trường, quê hương, đất nước.
- Có niềm tin vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đã học và hướng tới những giá trị chân, thiện, mĩ.
- Có trách nhiệm với bản thân, có nhu cầu tự điều chỉnh, tự hoàn thiện để trở thành chủ thể tích cực, năng động sáng tạo.
Cần chú ý trọng tâm của môn GDCD là phát triển ở học sinh hệ thống thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức ; hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, tích cực tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm, quyền hạn của công dân; hình thành hành vi, thói quen theo các chuẩn mực đạo đức xã hội, những qui định của pháp luật và cộng đồng.

1.2. Về tính thực tiễn của môn GDCD
- Các chủ đề trong chương trình GDCD ở THCS gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh trong các mối quan hệ với những người xung quanh, với bản thân, với công việc và với môi trường sống (Ví dụ : chủ đề Sống nhân ái vị tha, Sống chủ động, sáng tạo, Các quyền tự do cơ bản của công dân,...).
- Nội dung cụ thể của từng bài học GDCD ở THCS là những yêu cầu thiết thực của xã hội hiện đại đối với người công dân, gắn liền với đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân, với các sự kiện đạo đức, pháp luật của địa phương, của đất nước, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh (Ví dụ : Tiết kiệm, Lễ độ, Lịch sự, tế nhị, Quyền trẻ em, quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình, Quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân,...).
- Việc lĩnh hội các giá trị đạo đức, pháp luật diễn ra trong chính các hoạt động thực tiễn của học sinh: học tập, lao động, vui chơi, giải trí...
1.3. Đặc điểm về cấu trúc nội dung môn GDCD
Môn Đạo đức ở tiểu học và GDCD ở THCS, THPT được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm phát triển các giá trị của con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH.
- Cấu trúc nội dung từ lớp 6 đến lớp 9 gồm 2 phần và có mối quan hệ với nhau.
Phần các chuẩn mực đạo đức gồm 8 chủ đề:
1) Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư
2) Sống tự trọng và tôn trọng người khác
3) Sống có kỉ luật
4) Sống nhân ái vị tha
5) Sống hội nhập
6) Sống có văn hóa
7) Sống chủ động, sáng tạo
8) Sống có mục đích
Phần các chuẩn mực pháp luật gồm 5 chủ đề:
1) Quyền trẻ em và quyền, nghĩa vụ công dân trong gia đình
2) Quyền và nghĩa vụ công dân về giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
3) Quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế
4) Các quyền tự do cơ bản của công dân
5) Nhà nước XHCN Việt Nam - Quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước.
Ở mỗi chủ đề (Đạo đức và Pháp luật) được lựa chọn sắp xếp một số bài từ dễ đến khó dần, từ cụ thể đến trừu tượng, từ quan hệ môi trường vi mô đến vĩ mô…
Ví dụ: chuyên đề Cần, Kiệm, Liêm chính, Chí công vô tư có bài “Siêng năng kiên trì”, “Tiết kiệm” (lớp 6); “Sống giản dị” (lớp 7); “Tôn trọng lẽ phải”, “Liêm khiết” (lớp 8); “Chí công vô tư” (lớp 9).
- Quy trình và các bước để xây dựng nội dung môn Đạo đức và môn GDCD, được tiến hành theo sơ đồ sau (xem trang 10 và xem thêm : Hà Nhật Thăng, Nhập môn Giáo dục công dân, Nhà XBGD, tr. 21).
Với quy trình xây dựng chương trình trên, nội dung các bài giữa hai phần Đạo đức và Pháp luật ở THCS có quan hệ mật thiết với nhau và được sắp xếp một cách lôgic theo cấp (từ lớp 6 đến lớp 9) và theo bài ở mỗi lớp (từ bài 1 đến bài cuối cùng).




Quy trình xây dựng chương trình môn đạo đức, GDCD

Yªu cÇu cña x· héi CNH - H§H
M« h×nh nh©n c¸ch con ng­êi ViÖt Nam
Bước I:


X¸c ®Þnh môc tiªu gd ¦ môc tiªu m«n häc

M« h×nh nh©n c¸ch ng­êi L§XH
Nh©n c¸ch ng­êi sau khi nghØ lao ®éng
§H, C§
TH CS
TH PT
TH
MGB­íc II:
THCN + DN

Nh©n c¸ch HSPT Nh©n c¸ch SV, HS…
X©y dùng ch­¬ng tr×nh cÊp häc , líp häc
- C¸c tr­êng SP
B­íc III: - §H + C§
MG
TH PT
TH CS
TH - - THCN
- DN

B­íc IV: X©y dùng chuÈn ch­¬ng tr×nh
(kiÕn thøc, kü n¨ng, th¸i ®é)

B­íc V: - ViÕt SGK, SGV, s¸ch bµi tËp
- X©y dùng thiÕt bÞ d¹y häc

- Cấu trúc của chương trình theo chủ đề Đạo đức và Pháp luật.
TT
Chủ đề Đạo đức
Lớp 6
Lớp 7
Lớp 8
Lớp 9
1
Sống cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
- Siêng năng, kiên trì.
- Tiết kiệm.
- Sống giản dị.
- Tôn trọng lẽ phải.
- Liêm khiết.
- Chí công vô tư.
2
Sống tự trọng và tôn trọng người khác.
- Tự chăm sóc, rèn luyện thân thể.
- Lễ độ.
- Trung thực.
- Tự trọng.
- Tôn trọng người khác.
- Giữ chữ tín.
- Tự chủ.
3
Sống có kỉ luật.
- Tôn trọng kỉ luật.
- Đạo đức và kỉ luật.
- Pháp luật và kỉ luật.
- Dân chủ và kỉ luật.
4
Sống nhân ái, vị tha.
- Biết ơn.
- Yêu thương con người.
- Tôn sư trọng đạo.
- Xây dựng tình bạn trong sáng, lành mạnh.
- Tích cực tham gia các hoạt động chính trị-xã hội.
- Bảo vệ hoà bình.
5
Sống hòa nhập.
- Yêu thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên.
- Sống chan hòa với mọi người.
- Đoàn kết, tương trợ.
- Khoan dung.
- Tôn trọng và học hỏi các dân tộc khác.
- Tình hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới.
- Hợp tác cùng phát triển.
6
Sống có văn hóa.
- Lịch sự, tế nhị.
- Xây dựng gia đình văn hóa.
- Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ.
- Góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
- Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
7
Sống chủ động, sáng tạo.
- Tích cực, tự giác trong hoạt động tập thể và trong hoạt động xã hội.
- Tự tin.
- Tự lập.
- Năng động, sáng tạo.
- Làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả
8
Sống có mục đích.
- Mục đích học tập của học sinh
- Sống và làm việc có kế hoạch
- Lao động tự giác và sáng tạo.
- Lí tưởng sống của thanh niên.
- Trách nhiệm của thanh niên trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

TT
Chủ đề Pháp luật
Lớp 6
Lớp 7
Lớp 8
Lớp 9
1
Quyền trẻ em, quyền và nghĩa vụ công dân trong gia đình.
Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em.
Quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em Việt Nam.
Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình.
Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân.
2
Quyền và nghĩa vụ công dân về trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Thực hiện trật tự an toàn giao thông.
Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
- Phòng, chống tệ nạn xã hội.
- Phòng, chống nhiễm HIV/AIDS
- Phòng ngừa tai nạn vũ khí, cháy, nổ và các chất độc hại.

3
Quyền và nghĩa vụ công dân về văn hoá, giáo dục và kinh tế.
Quyền và nghĩa vụ học tập.
Bảo vệ di sản văn hoá.
- Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác.
- Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ tài sản nhà nước và lợi ích công cộng.
- Quyền tự do kinh doanh và nghĩa vụ đóng thuế.
- Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân.
4
Các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân
- Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
- Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín.
Quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo.
- Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
- Quyền tự do ngôn luận.

5
Nhà nước CHXHCN Việt Nam - Quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước
Công dân nước CHXHCNVN.
- Nhà nước CHXHCNVN.
- Bộ máy nhà nước cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn).
- Hiến pháp nước CHXHCNVN.
- Pháp luật nước CHXHCNVN.
- Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân.
- Quyền tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội của công dân.
- Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Từ lôgic trên, đòi hỏi giáo viên khi dạy học mỗi bài phải biết những bài đã dạy (để củng cố kiến thức) và những bài sẽ dạy sau ở cùng 1 lớp và cùng chủ đề ở lớp sau (để đặt tiền đề, nền móng cho những bài sẽ dạy). Đối với môn Đạo đức (ở Tiểu học), GDCD (ở THCS, THPT), đòi hỏi thầy giáo, cô giáo phải nắm vững toàn bộ chương trình, nội dung của cả cấp học.


Chương trình môn GDCD được xây dựng dựa trên cơ sở các môn khoa học cơ bản như: Đạo đức học, Luật học và một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Môn GDCD là môn học tích hợp nhiều nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho công dân trẻ tuổi như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục giới tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS,... Vì vậy đòi hỏi thầy cô giáo có kiến thức rộng nhiều lĩnh vực, đặc biệt cần có kiến thức xã hội, có nghệ thuật dạy học - giáo dục và có tâm hồn trong sáng.

1.4. Về vị trí và ý nghĩa của môn GDCD ở trường THCS
Giáo dục công dân ở THCS cũng như Đạo đức ở tiểu học là môn học nằm giao thoa giữa hai quá trình dạy học và giáo dục. Nó có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát triển tâm lực ở học sinh.

- Đặc điểm về vị trí môn học có thể mô hình hoá như sau:
Chú thích:

- Vòng tròn A: quá trình dạy học
- Vòng tròn B: quá trình giáo dục
(theo nghĩa hẹp)
- Vòng tròn C: môn GDCD, ĐĐ.




C

B


A






+ Trước hết GDCD là một môn học, chương trình nội dung các bài được sắp xếp theo một cấu trúc lôgic chặt chẽ, được thực hiện theo quy trình tổ chức của quá trình dạy học.
+ GDCD là một môn học đặc biệt, là một bộ phận của quá trình giáo dục các giá trị nhân cách (đạo đức, pháp luật, lối sống…) vì mục tiêu của môn học chính là thực hiện mục tiêu của quá trình giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Đó là vị trí đặc biệt của môn GDCD và môn Đạo đức ở tiểu học so với các môn học khác ở phổ thông.
- Chính vì vị trí của nó, mà môn GDCD có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển thái độ, tình cảm, niềm tin, nâng cao nhận thức xã hội ở học sinh, tạo ra động cơ đúng đắn giúp học sinh tự điều chỉnh hành vi, thói quen trong hoạt động và cuộc sống hàng ngày của các em.
Hiểu vị trí, ý nghĩa đặc biệt của môn GDCD ở THCS, thầy cô giáo sẽ sáng tạo, chủ động trong việc tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục.
II. Đổi mới PPDH môn GDCD THCS
1. Một số thuật ngữ cơ bản
1.1 Phương pháp dạy học
PPDH là lĩnh vực rất phức tạp và đa dạng. Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH. Trong tài liệu này, PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
PPDH có ba cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…
Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH.
- Cấp độ trung gian là PPDH cụ thể. Ví dụ: đóng vai, kể chuyện, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi, …
Ở cấp độ này khái niệm PPDH được hiểu với nghĩa hẹp, là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể.
PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS.
- Cấp độ vi mô là Kĩ thuật dạy học . Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật phản hồi tích cực,...
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH. Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh,... Tuy nhiên sự phân biệt giữa kĩ thuật dạy học và PPDH nhiều khi không rõ ràng.
1.2 Đổi mới PPDH
Theo một nghĩa chung nhất thì: Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH theo cách mới, trong những điều kiện mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Nói một cách cụ thể hơn thì: Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH một cách tích cực và hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm HS và đặc điểm của từng lớp học, môn học. Đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ định hoàn toàn các PPDH truyền thống và tuyệt đối hóa các PPDH hiện đại. Trong đổi mới PPDH cần phải khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống; sử dụng chúng một cách hợp lí, có hiệu quả trong sự kết hợp hài hòa với các PPDH hiện đại.

2. Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
Vấn đề đặt ra là : Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học ?
Có thể nói một trong những yêu cầu, đòi hỏi cấp bách của xã hội hiện nay là đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học. Điều đó dựa trên những cơ sở sau:
2.1. Cơ sở pháp lí
Về đổi mới phương pháp dạy học, nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khoá VII đã xác định “phải khuyến khích tự học”, “áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định “phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”.
Nghị quyết số 40 năm 2000 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định phải đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thể hệ trẻ.
Định hướng đó đã được pháp chế hoá trong văn bản pháp luật. Luật Giáo dục năm 2005 Điều 28, khoản 2 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Định hướng trên nhấn mạnh đến việc phát huy tính tích cực, khả năng tự học, phương pháp tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức, hứng thú học tập của học sinh.
2.2. Cơ sở tâm lí - giáo dục
Chúng ta ai cũng biết rằng việc học tập chỉ có kết quả khi người học được phát huy nội lực để tự phát triển chính mình. Nếu trong quá trình học tập, học sinh không tích cực suy nghĩ, tìm tòi, không có sự nỗ lực cao để tự chiếm lĩnh, thì chỉ có thể tiếp thu được những gì mà thầy truyền thụ. Trong khi đó, tri thức của nhân loại qua các thời kì phát triển ngày càng đồ sộ, việc dạy học trong nhà trường không thể cung cấp được hết khối lượng tri thức đó. Sự bùng nổ thông tin ngày nay khiến người ta phải nghĩ đến một chiến lược dạy học mới, nhằm phát huy vai trò chủ thể học của học sinh, trong đó chú trọng rèn luyện phương pháp tự học ; thầy giáo là người tổ chức, hướng dẫn, khơi gợi hứng thú hoạt động của học sinh, thông qua hoạt động HS lĩnh hội được tri thức, kĩ năng, hình thành thái độ, niềm tin, hệ thống giá trị mới.
Học sinh THCS thuộc lứa tuổi từ 11 đến 15 tuổi, là lứa tuổi thiếu niên, chuyển tiếp từ thơ ấu lên trưởng thành. Đây là thời kì phát triển mạnh mẽ cả về thể chất, tâm lí, trí tuệ. Tư duy trừu tượng khái quát ngày càng phát triển, các em rất ham học hỏi. Đặc biệt, ở lứa tuổi này nảy sinh nhu cầu muốn được thừa nhận là người lớn. Các em muốn được người lớn tôn trọng, tin tưởng và muốn khẳng định tính độc lập của mình. Nhu cầu giao tiếp ở lứa tuổi này cũng phát triển mạnh. Nhóm bạn có một vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống tình cảm của các em. Các em muốn được hoạt động chung, muốn được bạn bè tôn trọng, thừa nhận khả năng của mình. Những đặc điểm tâm lí lứa tuổi này rất thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học, đồng thời đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với nhu cầu chính đáng của học sinh.
Mặt khác, xã hội phát triển nhanh đòi hỏi con người phải thích ứng với những yêu cầu :
- Tự học suốt đời
- Năng động sáng tạo
- Tự lực giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
Từ đó ta thấy phương pháp dạy học cũ theo lối thụ động là chưa phù hợp với bản chất của lao động học tập và chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục của xã hội hiện đại và phải có sự đổi mới.
2.3. Cơ sở kinh tế - xã hội
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thích ứng với cơ chế thị trường, chuẩn bị cho cuộc sống và có việc làm ngày càng tốt hơn, học sinh phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về mục đích, động cơ, thái độ học tập. Thay cho tâm lí ỷ lại của thời bao cấp sẽ là sự tháo vát, năng động tự tạo việc làm. Học sinh sẽ ý thức được rằng học tập tốt trong nhà trường là hứa hẹn một tương lai tốt đẹp, sự thành đạt trong cuộc đời ; phấn đấu trong học tập để có thực lực đạt tới vị trí kinh tế xã hội phù hợp với năng lực của mình. Với một đối tượng như vậy, đòi hỏi nhà trường phải có sự chuyển biến tích cực, sự đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học – giáo dục.
Mặt khác, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải có những con người lao động có chất lượng cao, năng động, sáng tạo, có đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển của đất nước. Vì vậy, có thể nói đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là một vấn đề cấp bách hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.
2.4. Thực trạng dạy học môn GDCD ở trường THCS hiện nay
Tại Hội thảo “Đánh giá hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân” tháng 4 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhận định như sau :
- Về phương pháp dạy học : Giáo viên dạy Giáo dục công dân đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào sách giáo khoa và sách giáo viên còn phổ biến. Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục thái độ và hành vi của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân thực hiện chưa đạt được yêu cầu đề ra của chương trình.
- Về thiết bị dạy học : Nhiều nơi chủ yếu chỉ sử dụng các thiết bị dạy học môn học tối thiểu do Bộ quy định, chưa quan tâm đến việc tự làm thiết bị, đồ dùng dạy học. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân đang được bước đầu thực hiện nhưng còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.
- Về quản lí chỉ đạo : Nhiều cấp quản lí chưa thực sự quan tâm đến môn Giáo dục công dân, vẫn còn coi đó là môn phụ nên chưa tạo điều kiện về bố trí giáo viên và các điều kiện cần thiết khác để giáo viên giáo dục công dân nâng cao chất lượng dạy học.
Theo chúng tôi, sở dĩ có tình trạng nêu trên là do :
- Một số giáo viên ngại đổi mới vì không muốn mất nhiều thời gian, công sức đầu tư cho việc chuẩn bị giờ dạy.
- Nhận thức của đa số giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học là đúng nhưng chưa đầy đủ ; nhận thức của một số giáo viên còn chưa đúng. Ví dụ : Đồng nghĩa đổi mới phương pháp với đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, nên cho rằng phải có đầy đủ phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại thì mới đổi mới được phương pháp ; hoặc sử dụng các phương pháp dạy học một cách hình thức, lạm dụng phương pháp này hoặc phương pháp khác một cách tràn lan, kém hiệu quả…
Thực trạng dạy học nêu trên càng cho thấy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân trong nhà trường.
3. Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
3.1. Một số quan điểm về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
a) Đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS nói riêng và các môn học nói chung phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Có thể nói đây là một quan điểm cơ bản nhất của đổi mới PPDH, tạo nên sự khác biệt với lối dạy học thụ động truyền thống. HS không chỉ là đối tượng của dạy học mà còn là chủ thể của quá trình dạy học, các em cần được tạo cơ hội để tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nội dung bài học dạy học.
b) Dạy học GDCD thông qua các hoạt động của HS
Hoạt động và giao tiếp là đặc trưng cơ bản của con người. Tâm lí học hiện đại đã chứng minh rằng : Nhân cách chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao tiếp. Chính vì vậy, để hình thành và phát triển nhân cách người công dân cho thế hệ trẻ, để thực hiện được mục tiêu môn GDCD không thể bằng sự thuyết lí, rao giảng của GV mà phải thông qua các hoạt động và tương tác của chính các em. Nói cách khác, quá trình dạy học môn GDCD cho HS THCS phải là quá trình tổ chức cho các em hoạt động và tương tác với thầy, với bạn, để thông qua đó các em có thể phát hiện và chiếm lĩnh nội dung bài học. Các hoạt động này phải do GV thiết kế, dựa trên mục tiêu, nội dung của bài học; dựa trên trình độ của HS và sở trường của GV; dựa trên điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của lớp học, nhà trường, địa phương. HS sẽ hứng thú, thông hiểu, ghi nhớ và thực hiện những gì các em đã lĩnh hội được thông qua hoạt động chủ động, nỗ lực của chính mình.
Các hoạt động dạy học môn GDCD ở THCS rất phong phú, đa dạng, bao gồm những hình thức hoạt động chủ yếu như:
- Thảo luận lớp, thảo luận nhóm.
- Đóng vai, diễn tiểu phẩm.
- Quan sát, phân tích các tranh ảnh, băng hình, tiểu phẩm.
- Xử lí tình huống.
- Nhận xét, phân tích, đánh giá các ý kiến, quan điểm, các hành vi, việc làm, các trường hợp điển hình, các thông tin, sự kiện, các hiện tượng trong đời sống thực tiễn có liên quan đến các chuẩn mực đạo đức và pháp luật đã học.
- Sưu tầm, tìm hiểu các tranh ảnh, bài báo, các tư liệu có liên quan đến nội dung bài học và trình bày, giới thiệu sản phẩm sưu tầm được.
- Xây dựng kế hoạch hành động của HS.
- Điều tra thực tiễn.
- Xây dựng và thực hiện các dự án thực tiễn.
- Chơi các trò chơi học tập.
- …
Các hoạt động dạy học phải được GV thiết kế đan xen nhau một cách hợp lí trong tiết học, để vừa bảo đảm thực hiện được mục tiêu bài học, vừa gây được hứng thú học tập cho HS.
c) Đổi mới PPDH GDCD theo quan điểm hợp tác
Trong dạy học môn GDCD, GV cần tạo cơ hội cho HS được hợp tác với GV và với nhau trong lớp, trong nhóm nhỏ. Cụ thể là GV cần tạo cơ hội cho HS được bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học; được nêu những băn khoăn, vướng mắc, đặt câu hỏi cho thầy, cho bạn; được trao đổi, tranh luận, chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm; được phản hồi và thu nhận thông tin phản hồi từ GV và bạn bè; được cùng nhau xây dựng kế hoạch, chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập đã được giao.
Việc học tập hợp tác sẽ làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp thực sự giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động hợp tác theo nhóm nhỏ, tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn; tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được phát triển. Sự hợp tác trong học tập sẽ giúp HS quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, giúp HS hình thành năng lực hợp tác rất cần thiết đối với người công dân sống trong một thế giới phát triển với những sự hợp tác song phương, đa phương giữa các quốc gia và xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá.
Để dạy học hợp tác có kết quả, GV cần xây dựng môi trường học tập thân thiện; xây dựng mối quan hệ gần gũi, cởi mở, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa GV với HS và giữa các HS trong lớp học.
d) Dạy học GDCD phải gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh
Về bản chất, GDCD là môn học giáo dục HS cách sống và ứng xử phù hợp với các giá trị xã hội, với quyền và nghiã vụ của người công dân. Chính vì vậy, để dạy học môn GDCD có hiệu quả cần gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống của HS. Cụ thể là GV cần tăng cường sử dụng các tình huống, các trường hợp điển hình, các hiện tượng thực tế, các vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội để phân tích, đối chiếu, minh hoạ cho bài giảng. Đồng thời cũng cần khuyến khích HS liên hệ, tự liên hệ; tiến hành điều tra, tìm hiểu, phân tích, đánh giá các sự kiện trong đời sống thực tiễn của lớp học, nhà trường, địa phương, đất nước trong quá trình học tập. Đặc biệt, cần tạo cơ hội và hướng dẫn HS xây dựng và thực hiện các dự án nhỏ để góp phần vào việc cải thiện môi trường tự nhiên và xã hội của lớp học, trường học và địa phương.
e) Dạy học GDCD phải kết hợp giữa PPDH và phương pháp giáo dục đạo đức, giữa các PPDH hiện đại và PPDH truyền thống
Phương pháp và hình thức dạy học môn GDCD rất phong phú, đa dạng, bao gồm cả PPDH và phương pháp giáo dục đạo đức (như: nêu gương, thuyết phục, khen thưởng- trách phạt, luyện tập, tổ chức chế độ sinh hoạt, giáo dục bằng truyền thống, giáo dục bằng viễn cảnh,...); bao gồm cả các phương pháp hiện đại (thảo luận nhóm, đóng vai, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển hình, trò chơi, dự án, động não,…) và các phương pháp truyền thống (thuyết trình, đàm thoại, kể chuyện, …); bao gồm cả hình thức dạy học theo lớp, theo nhóm nhỏ và cá nhân; hình thức dạy học ở trong lớp, ngoài lớp và ngoài trường. Mỗi phương pháp dạy học đều có mặt tích cực và hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài và đòi hỏi những điều kiện thực hiện riêng. Vì vậy, GV không nên phủ định hoặc quá lạm dụng một PPDH nào. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài, căn cứ vào trình độ nhận thức của HS và năng lực, sở trường của GV, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường mà lựa chọn và sử dụng phối hợp các PPDH một cách hợp lí.
g) Dạy học GDCD phải chú trọng sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học
Việc đổi mới PPDH môn GDCD cần phải gắn liền với đổi mới phương tiện dạy học. Trong quá trình dạy học môn GDCD, GV cần lựa chọn và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các thiết bị dạy học đã được cung cấp theo danh mục cũng như các thiết bị, đồ dùng dạy học do GV, HS tự làm; đặc biệt khuyến khích GV sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
h) Dạy học GDCD cần phải phối, kết hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm xây dựng môi trường dạy học, giáo dục lành mạnh, khép kín
Khác với các môn học khác, hiệu quả dạy học môn GDCD đòi hỏi phải có môi trường dạy học, môi trường giáo dục lành mạnh, khép kín. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, cần phải phối, kết hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường (Ban Giám hiệu, GV bộ môn, GV chủ nhiệm, Tổng phụ trách, Cán bộ Đoàn, Đội,...) và ngoài nhà trường (phụ huynh, chính quyền địa phương,...) nhằm tạo ra những tác động giáo dục cùng chiều, những tấm gương sống và ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức và pháp luật để HS noi theo; những sự động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho HS thực hành những điều đã học trong cuộc sống;...

3.2. Yêu cầu cụ thể đối với giáo viên
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nội dung bài học; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; hướng dẫn học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn;..
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS ; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.
3.3. Yêu cầu cụ thể đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thày, cho bạn; biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè.
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.
3.4. Yêu cầu cụ thể về chuẩn bị và thực hiện một giờ học theo định hướng đổi mới PPDH môn GDCD
1/ Thiết kế giáo án
Thiết kế giáo án là xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh nhằm giúp học sinh đạt được những mục tiêu của bài học.
a) Các bước thiết kế một giáo án
- Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình.
- Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để :
+ Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học.
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh.
+ Xác định trình tự lôgic của bài học.
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh :
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã có và cần có.
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
- Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
- Thiết kế giáo án : thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.
b) Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau :
- Mục tiêu bài học :
+ Nêu rõ yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học
+ Giáo viên chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các phương tiện và tài liệu dạy học cần thiết.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết).
- Tổ chức các hoạt động dạy học :
Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy - học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ :
+ Tên hoạt động.
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động.
+ Mục tiêu của hoạt động.
+ Cách tiến hành hoạt động.
+ Kết luận của giáo viên (về những kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần có sau hoạt động ; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học để giải quyết ; những sai sót thường gặp ; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp ;...)
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối : xác định những việc học sinh cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.
2/ Thực hiện giờ dạy học
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau :
a) Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
- Kiểm tra tình hình nắm vững bài học cũ.
- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết))
Lưu ý : Việc kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới.
b) Tổ chức dạy và học bài mới
- Giáo viên giới thiệu bài mới : nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu bài học ; tạo động cơ học tập cho học sinh.
- Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng phương pháp dạy học phù hợp.
c) Luyện tập, củng cố
Giáo viên hướng dẫn học sinh củng cố, khắc sâu những kiến thức, kĩ năng, thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác nhau.
d) Đánh giá
- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, giáo viên dự kiến một số câu hỏi, bài tập và tổ chức cho học sinh tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn.
- Giáo viên đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học.
e) Hướng dẫn học sinh học bài, làm việc ở nhà
- Giáo viên hướng dẫn học sinh luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua việc giao nhiệm vụ, gợi ý làm bài tập, thực hành, thí nghiệm,...).
- Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học mới.
Lưu ý : Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ học sinh, điều kiện cơ sở vật chất… giáo viên có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học nêu trên một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc.
III. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD ở THCS
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Đổi mới dạy học phải tiến hành đổi mới đồng bộ các khâu, trong đó có đổi mới kiểm tra, đánh giá.
1. Một số thuật ngữ
1.1. Kiểm tra
Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá. Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá. Trong dạy học có 4 loại kiểm tra là : Kiểm tra thăm dò ; kiểm tra kết quả ; kiểm tra xếp thứ bậc và kiểm tra năng lực tổng thể có định hướng. Thi cũng là kiểm tra nhưng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.
1.2. Đánh giá
Trong giáo dục đánh giá được hiểu là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học (mục tiêu đào tạo) làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
1.3. Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học
Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lí thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và ngành Giáo dục.
1.4. Đánh giá kết quả học tập
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.
Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một kế hoạch tổng thể gồm 3 công đoạn chủ yếu:
a) Thu thập thông tin.
b) Phân tích thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của kết quả học tập.
c) Ra quyết định sư phạm.
Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:
- Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến kết quả học tập cho giai đoạn đó.
- Đánh giá quá trình: được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp theo (nội dung nào nên dạy và cách tiếp cận nào nên sử dụng,…) của quá trình dạy học đó.
- Đánh giá tổng kết: được tiến hành tại cuối mỗi giai đoạn học tập, nhằm tổng kết thành tích học tập của học sinh một cách có hệ thống.
Ví dụ: đầu lớp 6 người ta sử dụng đánh giá chẩn đoán thông qua hình thức kiểm tra chất lượng đầu năm nhằm đánh giá chất lượng đầu vào và dự kiến thành tích học tập của học sinh cuối năm học; sử dụng đánh giá quá trình thông qua hình thức kiểm tra thường xuyên, định kì (miệng, 15 phút, 45 phút,…) nhằm đánh giá kết quả học tập tại từng thời điểm của năm học, từ đó ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh theo định hướng đạt được mục tiêu đã định ban đầu; sử dụng đánh giá tổng kết thông qua hình thức kiểm tra học kì, cuối năm nhằm đánh giá kết quả học tập sau khi học sinh đã nỗ lực phấn đấu và điều chỉnh hoạt động của mình trong cả năm học, ra quyết định về việc mỗi em có đạt được mục tiêu của chương trình môn học đã qui định hay không, lập kế hoạch giáo dục trong giai đoạn tiếp theo.
Vì kiểm tra là phương tiện và hình thức của hoạt động đánh giá nên muốn đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh thì trước tiên phải đổi mới việc kiểm tra.
Tài liệu này chủ yếu đề cập đến việc đổi mới kiểm tra kết quả học tập môn Giáo dục công dân của học sinh Trung học cơ sở.
2. Mục đích kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Việc kiểm tra kết quả học tập của học sinh có những mục đích sau :
- Xác định thực trạng mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh so với mục tiêu và chuẩn chương trình.
- Giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ cũng như tồn tại của mình, khuyến khích, thúc đẩy việc học tập của HS.
- Tìm ra nguyên nhân của mức độ chất lượng mà học sinh đạt được ; phán đoán những khả năng phát triển về kiến thức và các kĩ năng mà học sinh có thể đạt được trong giai đoạn tiếp theo.
- Giúp giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục các cấp điều chinh việc tổ chức hoạt động dạy và học cho phù hợp, tìm những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học.
3. Các hình thức và loại bài kiểm tra trong dạy học môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
3.1. Các hình thức kiểm tra
Các hình thức kiểm tra thông thường vẫn dùng là
- Kiểm tra thường xuyên
- Kiểm tra định kì
- Kiểm tra tổng kết
3.2. Các loại bài kiểm tra môn Giáo dục công dân trường THCS
Các hình thức kiểm tra thông thường vẫn dùng là
- Kiểm tra miệng
- Kiểm tra viết 15 phút
- Kiểm tra viết 1 tiết giữa học kì
- Kiểm tra viết 1 tiết cuối học kì
Ngoài những hình thức kiểm tra dạy học trên, môn GDCD cần phải tiến hành kiểm tra hiệu quả chất lượng dạy học qua các hình thức sau đây:
a. Kiểm tra thực hành trên lớp: Loại kiểm tra thực hành trong môn Giáo dục công dân nhằm kiểm tra kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, thái độ và hành vi của học sinh đối với các chuẩn mực bài học.
Việc kiểm tra thực hành có thể tiến hành trên lớp, có thể ở ngoài lớp, ở địa điểm tham quan.
Kiểm tra thực hành có thể thực hiện sau khi học xong mỗi chuẩn mực, giáo viên kiểm tra việc thực hiện chuẩn mực đó ; có thể thực hiện sau khi tổ chức các hoạt động ngoại khoá thực hành cho học sinh như : Thi tìm hiểu theo chủ đề ; tham quan di tích, làng nghề truyền thống, ; sưu tầm tranh ảnh, hiện vật ; điều tra thực trạng (về môi trưòng, tệ nạn xã hội ở địa phương…), sáng tác (vẽ tranh, làm thơ, viết thu hoạch…) ; hoạt động tập thể, hoạt động xã hội,…Qua quan sát các hoạt động và nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của học sinh, giáo viên có thể nhận xét tinh thần thái độ cũng như kết quả thạm gia hoạt động, khả năng ứng xử, giao lưu của học sinh và đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng và đánh giá được thái độ của HS về một nội dung học tập nào đó trong chương trình.
b. Kiểm tra đánh giá sản phẩm của học sinh qua hoạt động thực tiễn
c. Kiểm tra đánh giá qua việc giải quyết các tình huống giáo dục trong và ngoài lớp ...
Lưu ý: Cần đa dạng hoá hình thức kiểm tra đánh giá để học sinh được bộc lộ thái độ và có cơ hội rèn luyện kỹ năng.
4. Một số yêu cầu cơ bản của việc đổi mới kiểm tra môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
Để đạt được mục tiêu môn học, việc kiểm tra kết quả học tập môn Giáo dục công dân phải hướng vào yêu cầu sau :
4.1. Việc kiểm tra phải góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS. Cụ thể không chỉ kiểm tra kiến thức, mà quan trọng là phải kiểm tra các kĩ năng (kĩ năng nhận xét, đánh giá, các kĩ năng vận dụng bài học để giải quyết các vấn đề, tình huống và thực hành trong cuộc sống), kiểm tra thái độ, tình cảm của học sinh đối với các vấn đề đạo đức và pháp luật . Từ đó, thúc đẩy HS tích cực rèn luyện theo yêu cầu của các chuẩn mực bài học.
4.2. Việc kiểm tra phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực. Cụ thể kiểm tra phải đưa lại những thông tin chính xác, phản ánh đúng kết quả học tập của học sinh để trên cơ sở đó giáo viên có sự điều chỉnh phù hợp về phương pháp dạy học, điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh. Bài kiểm tra được coi là có độ tin cậy nếu kết quả đánh giá phản ánh đúng năng lực học tập của học sinh dựa theo các tiêu chí đánh giá.
4.3. Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học để xây dựng đề kiểm tra, từ đó mới xác định được mức độ đạt yêu cầu của chuẩn.
4.4. Phái có sự phân hoá mức độ cho các loại đối tượng học sinh khác nhau nhằm khuyến khích HS phấn đấu vươn lên. Nhìn chung, đề kiểm tra phải phù hợp với số đông HS (đại trà) và dành một số nội dung cho HS khá và giỏi (khoảng 25% tổng số điểm).
4.5. Đổi mới công cụ kiểm tra, cụ thể là đổi mới các hình thức đề kiểm tra, kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và hình thức quan sát động, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh.
4.6. Phối hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá
Môn Giáo dục công dân là một môn học có tính giáo dục và tính thực tiễn cao, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng bài học trong cuộc sống và thực hành các chuẩn mực bài học, có sự thống nhất giữa nhận thức và hành vi. Để củng cố và tăng cường ý thức rèn luyện của học sinh ở mọi nơi, mọi lúc theo yêu cầu trên, trong đổi mới kiểm tra môn Giáo dục công dân cần có sự phối hợp tham gia của các lực lượng, cụ thể:
- Tự kiểm tra, đánh giá và kiểm tra, đánh giá của học sinh và tập thể học sinh.
- Kiểm tra, đánh giá của các lực lượng giáo dục trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn khác, cán bộ Đoàn, Đội.
- Kiểm tra, đánh giá của gia đình và cộng đồng.
Để thực hiện việc tốt việc phối hợp các lực lượng trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên dạy môn Giáo dục công dân cần phải thường xuyên liên hệ, kịp thời thu nhận những thông tin nhận xét, đánh giá của các lực lượng trên về thái độ, hành vi của học sinh, mặt khác có những hình thức khuyến khích học sinh tự liên hệ, tự kiểm tra, tự đánh giá và kiểm tra, đánh giá lẫn nhau. Cần xác định nội dung tham gia kiểm tra, đánh giá cho các lực lượng. Ví dụ gia đình và cộng đồng có thể tham gia chủ yếu vào việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chuẩn mực của học sinh ; cán bộ Đoàn Đội có thể tham gia đánh giá tinh thần, thái độ, kết quả tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội …
Giáo viên dạy môn Giáo dục công dân là người đóng vai trò quyết định trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập bộ môn của học sinh.
Biện pháp phối hợp các lực lượng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục công dân sẽ tạo ra một môi trường giáo dục khép kín, tăng cường tính chính xác trong đánh giá.

5. Hướng dẫn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD
Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học, là công việc tất yếu của tất cả các môn học khác. Tuy nhiên kiểm tra đánh giá của môn GDCD có đặc thù riêng là : Không chỉ kiểm tra kiến thức đã học, mà còn chú trọng đến kiểm tra thái độ, các kĩ năng nhận xét, đánh giá, phân biệt đúng - sai, khả năng vận dụng và thực hành kiến thức đã học vào cuộc sống của học sinh. Do đó, trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD không chỉ sử dụng loại câu hỏi tự luận, trắc nghiệm khách quan như các môn học khác, mà còn là những bài tập tình huống, là sản phẩm hoạt động của học sinh và là chính quá trình hoạt động của học sinh.
5.1. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi kiểm tra
Hiện nay, ở cấp THCS đề kiểm tra được xây dựng theo ba mức độ của tư duy là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
- Mức độ nhận biết : Là mức độ chỉ yêu cầu học sinh nhận ra, nhớ lại nội dung đã học.
- Mức độ thông hiểu : Mức độ này, yêu cầu học sinh nhận biết được các kiến thức cơ bản đã được thay đổi hoặc mở rộng ít nhiều so với kiến thức đã học. Để trả lời câu hỏi dạng này học sinh không chỉ dùng trí nhớ kiểu thuộc lòng mà chủ yếu dùng trí nhớ lôgíc, biết phân tích, lý giải và có thể khái quát (ở mức độ đơn giản) để tự rút ra kết luận trả lời câu hỏi trắc nghiệm hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích, biết dùng ngôn ngữ riêng để diễn đạt,... trong câu tự luận.
- Mức độ vận dụng: Là mức độ yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong 1 tình huống cụ thể.
5.1.1. Câu hỏi tự luận
a/ Câu hỏi tự luận nhận biết : Là loại câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại nội dung đã học để trình bày lại giống như vậy.
Ví dụ 1: Em hãy cho biết thế nào là di sản văn hoá ?
(Câu hỏi kiểm tra bài 15, lớp 7 : Bảo vệ di sản văn hóa)
Ví dụ 2 : Luật Hôn nhân và Gia đình ở nước ta có những quy định gì về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hôn nhân ?
(Câu hỏi kiểm tra bài 12, lớp 8 : Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình)
b/ Câu hỏi tự luận thông hiểu : là câu hỏi yêu cầu học sinh dùng ngôn ngữ riêng để trình bày lại kiến thức đã học, tự rút ra kết luận hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích,... về một vấn đề nào đó.
Ví dụ 1: Em hiểu thế nào là yêu thương con người ? Vì sao chúng ta phải chống lại thói thờ ơ, lạnh nhạt trước khó khăn, đau khổ của người khác?
(Câu hỏi kiểm tra bài 5, lớp 7 : Yêu thương con người)
Ví dụ 2 : Em có đồng ý với ý kiến cho rằng : Tự do kinh doanh có nghiã là công dân được kinh doanh bất cứ mặt hàng gì mình muốn ? Căn cứ vào đâu để em đưa ra ý kiến đó?
(Câu hỏi kiểm tra bài 13, lớp 9 : Quyền tự do kinh doanh và đóng thuế)
c/ Câu hỏi tự luận vận dụng : Loại câu hỏi này yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể.
Ví dụ 1 : Gia đình, dòng họ em có truyền thống tốt đẹp nào ? Em cần làm gì để có thể giữ gìn, phát huy được truyền thống đó ?
(Câu hỏi kiểm tra bài 10, lớp 7 : Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ)
Ví dụ 2 : Em biết gì về quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân ? Em sẽ ứng xử nh­ư thế nào nếu trên đường đi học về có người chặn đường đe doạ đánh em vì em không thực hiện một yêu cầu vô lí của họ?
(Câu hỏi kiểm tra bài 16, lớp 6 : Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm)
Ví dụ 3 : Cho biết ý kiến của em về việc bảo vệ tài sản nhà trường của các bạn ở lớp em ?
(Câu hỏi kiểm tra bài 17, lớp 8 : Nghĩa vụ tôn trọng tài sản của nhà nước và lợi ích công cộng)
* Ưu điểm và nhược điểm của câu hỏi tự luận
Tự luận là hình thức kiểm tra quen thuộc, có tính truyền thống, được sử dụng rộng rãi trong kiểm tra đánh giá của các môn học. Câu hỏi tự luận có ưu điểm và nhược điểm sau:
- Ưu điểm
+ Người ra đề mất ít thời gian ra đề và dễ dàng đưa ra câu hỏi.
+ Nếu sử dụng một cách hợp lí, câu hỏi tự luận có thể đánh giá được các cấp độ tư duy ở mức độ cao và khả năng viết của học sinh. Vì để trả lời câu hỏi tự luận, học sinh phải đưa ra câu trả lời độc lập của cá nhân nên có tác dụng phát triển kĩ năng diễn đạt, trình bày ý tưởng ; kĩ năng phân tích, tổng hợp; khả năng suy luận, liên tưởng,... ở học sinh.
+ Câu hỏi tự luận còn giúp giáo viên dễ dàng nhận thấy những nhược điểm, hạn chế trong nhận thức, thái độ cũng như trong tư duy của học sinh để kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.
- Nhược điểm :
+ Câu hỏi tự luận thường chỉ chỉ kiểm tra được nội dung đã học trong một phạm vi hẹp và học sinh mất nhiều thời gian để trả lời cho một câu hỏi;
+ Các câu trả lời của học sinh có thể rất đa dạng, giáo viên mất nhiều thời gian chấm bài nên việc đánh giá có thể thiếu chính xác.
Vì vậy, giáo viên cần khắc phục những nhược điểm của hình thức kiểm tra tự luận bằng cách phải xây dựng câu hỏi, đáp án và biểu điểm rất chi tiết, rõ ràng và phải tôn trọng các cách trình bày, suy nghĩ của học sinh, tránh đánh giá tuỳ tiện hoặc thiên vị.
5.1.2. Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
a) Trắc nghiệm khách quan là gì ?
Trắc nghiệm khách quan là một phương tiện đo lường khả năng học tập của học sinh một cách tương đối chính xác nhờ số điểm được quyết định do bài trắc nghiệm tạo ra, không bị chi phối bởi tác động của người chấm bài.
b) Các loại trắc nghiệm khách quan :
Người ta thường sử dụng các loại trắc nghiệm khách quan sau đây :
· Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (có 1 phương án đúng)
Loại trắc nghiệm này gồm hai phần :
- Phần mở đầu là phần dẫn : Phần dẫn thường có câu dẫn và câu “lệnh” (còn gọi là yêu cầu). Câu dẫn có thể là một câu hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh nhằm giúp học sinh hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì. Câu dẫn cần viết ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu để học sinh hiểu rõ câu hỏi phải trả lời, hoặc vấn đề cần giải quyết.
Trước hoặc sau câu dẫn, có câu “lệnh” để học sinh biết cần phải làm gì để trả lời câu hỏi.
- Phần thứ hai là phần lựa chọn : Phần này gồm một số phương án (thường là 4 hoặc 5 phương án) trả lời cho câu hỏi hay phần bổ sung cho câu chưa được hoàn chỉnh. Phần lựa chọn gồm nhiều phương án, nhưng chỉ có một phương án đúng, những phương án còn lại là sai (còn gọi là phương án "nhiễu” hay phương án nền). Các phương án "nhiễu" thường là các lỗi học sinh hay mắc phải.
Ví dụ :
Hành vi nào sau đây thể hiện đúng sự tôn trọng lẽ phải ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Thấy bất kể việc gì có lợi cho mình cũng phải làm bằng được.
B. Luôn bảo vệ mọi ý kiến của mình.
C. Lắng nghe ý kiến của mọi người để tìm ra điều hợp lí.
D. Luôn luôn tán thành và làm theo số đông.
( Câu hỏi kiểm tra bài 1, lớp 8 : Tôn trọng lẽ phải)
Ở ví dụ trên :
- Câu : “Hành vi nào sau đây thể hiện đúng sự tôn trọng lẽ phải ?” là câu dẫn.
- Câu (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn) là câu “lệnh”.
- Phần sau câu dẫn và câu “lệnh” là các phương án lựa chọn.
Lưu ý :
- Khi thiết kế câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn cần tránh : có 2-3 câu trả lời đúng (mặc dù chưa đủ); có phương án “Tất cả đều đúng”, “Tất cả đều sai”.
- Phần dẫn phải có nội dung rõ ràng, không nêu đưa nhiều ý vào trong một câu. Nên hạn chế sử dụng câu dẫn dạng phủ định. Nếu câu dẫn có dạng phủ định thì phải in đậm từ phủ định và gạch chân dưới từ phủ định để học sinh biết và thận trọng khi trả lời.
Ví dụ :
Tài sản nào nêu dưới đây không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Tiền lương, tiền công lao động.
B. Xe máy cá nhân có được do trúng giải thưởng sổ xố của Nhà nước.
C. Cổ vật được tìm thấy khi đào móng làm nhà.
D. Tiền tiết kiệm của người dân gửi trong ngân hàng Nhà nước.
( Câu hỏi kiểm tra bài 16, lớp 8 : Quyền sở hữ tài sản và nghĩa vụ tôn trọng tài sản của người khác)
- Khi viết câu nhiều lựa chọn cần phải có mối liên hệ giữa câu dẫn với các phương án lựa chọn, tạo nên một nội dung hoàn chỉnh, có nghĩa ; tránh để lộ câu chọn đúng, tránh diễn đạt nguyên văn sách giáo khoa. Câu nhiễu phải có cấu trúc và nội dung tương tự như câu trả lời đúng, bề ngoài có vẻ là đúng nhưng thực chất là sai hoặc chỉ đúng một phần, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ để loại trừ. Như vậy, chỉ có học sinh nào nắm chắc và hiểu thực sự thì mới có sự lựa chọn đúng. Tuy nhiên việc lựa chọn may rủi vẫn xảy ra ở mức độ khoảng 25%.
· Trắc nghiệm đúng - sai
Loại câu trắc nghiệm này gồm có phần dẫn và phần trả lời :
- Phần dẫn : trình bày một nội dung nào đó mà học sinh phải đánh giá là đúng hay sai.
- Phần trả lời chỉ có 2 phương án : đúng (Đ) và sai (S).
Ví dụ :
Hãy ghi chữ Đ tương ứng với câu đúng, chữ S tương ứng với câu sai vào ô trống trong cột II của bảng sau :
I
II
A. Tự do ngôn luận là ai muốn nói gì thì nói

B. Tự do ngôn luận thể hiện quyền làm chủ Nhà nước, làm chủ xã hội của công dân

C. Trẻ em do còn nhỏ nên chưa có quyền tự do ngôn luận

D. Tự do ngôn luận phải tuân theo quy định của pháp luật

( Câu hỏi kiểm tra bài 19, lớp 8 :Quyền tự do ngôn luận)
Lưu ý :
- Ở ví dụ trên phần trên cùng (Hãy ghi chữ Đ tương ứng với câu đúng, chữ S tương ứng với câu sai vào ô trống trong cột II bảng sau :) là câu lệnh, cột I là phần dẫn, cột II dành cho phần trả lời.
- Câu trắc nghiệm đúng - sai phải có độ khó đối với học sinh chưa hiểu kĩ bài và phải có tính đúng - sai rõ ràng.
- Các câu trong phần dẫn nên viết ngắn gọn, không nên trích dẫn nguyên văn nội dung SGK ; tránh sử dụng những thuật ngữ mơ hồ, không xác định về mức độ như “thông thường”, “hầu hết” hoặc “luôn luôn”, “tất cả”, “không bao giờ”… vì học sinh dễ đoán được câu đó đúng hay sai.
- Loại câu này chỉ kiểm tra kiến thức ở mức độ “biết”, ít kích thích suy nghĩ, khả năng phân hoá học sinh là thấp; yếu tố ngẫu nhiên, may rủi nhiều hơn so với câu nhiều lựa chọn, có thể tới khoảng 50%. Do đó không nên lạm dụng dạng trắc nghiệm này.
· Dạng trắc nghiệm ghép đôi (còn gọi là trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi)
Trắc nghiệm ghép đôi thường có cấu tạo gồm : Trên là câu lệnh. Tiếp theo là 2 dãy (còn gọi là 2 cột) : dãy bên trái có thể là các câu đã hoàn chỉnh hoặc các câu chưa hoàn chỉnh, hay các câu hỏi ; dãy bên phải có thể là các nội dung có liên quan đến các câu đã hoàn chỉnh ở dãy trái hoặc các mệnh đề để hoàn chỉnh các câu ở dãy trái, hay các câu trả lời các câu hỏi ở dãy trái.
Ví dụ :
Hãy nối 1 ô ở cột trái (I) với 1 ô ở cột phải (II) sao cho đúng :
I
II
A/ Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định
1. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động
B/ Công dân có quyền tự do sử dụng sức lao động của mình để học nghề
2. Nghĩa vụ của người kinh doanh
C/ Các cơ sở sản xuất không được nhận người dưới 15 tuổi vào làm việc
3. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân
D/ Người kinh doanh phải thực hiện nghĩa vụ đóng thuế
4. Quyền lao động của công dân
Đ/ Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện giúp đỡ

E/ Mọi người cần thận trọng, nghiêm túc trong hôn nhân.

..... nối với ..... ..... nối với .....
..... nối với ..... ..... nối với .....
( Đề kiểm tra lớp 9)

Lưu ý :
- Các câu để ghép đôi đòi hỏi học sinh phải đọc hết các câu ở dãy bên trái và các câu ở dãy bên phải, suy nghĩ để tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Sau đó các em trả lời thích hợp bằng gạch nối hoặc cũng có thể trả lời đơn giản : ..... nối với .....; hoặc 1 ®… , 2 ® …, 3 ®…
- Khi viết loại câu này cần chú ý những điểm sau:
+ Câu lệnh : tuỳ yêu cầu trả lời của câu hỏi mà có lệnh khác nhau.
+ Số nội dung lựa chọn ở dãy trái cần nhiều hơn số nội dung ở dãy phải để có “nhiễu” tạo độ khó cho câu hỏi. Mỗi nội dung ở dãy trái chỉ nối với một nội dung ở dãy phải.
+ Các nội dung ở mỗi dãy nên ngắn gọn vì nếu dài quá sẽ làm cho học sinh mất nhiều thời gian đọc và lựa chọn.
· Trắc nghiệm điền khuyết
Trắc nghiệm điền khuyết có 2 loại :
- Loại thứ nhất : Có thể là những câu phát triển với một hoặc nhiều chỗ trống để học sinh phải điền 1 từ hoặc 1 cụm từ hay kí hiệu thích hợp nào đó. Loại này thường có cấu tạo gồm 3 phần : phần câu lệnh, phần nội dung và phần cung cấp thông tin.
+ Câu lệnh : Hãy chọn từ hoặc cụm từ đã cho điền vào chỗ trống ở các câu sau đây để được câu trả lời đúng.
+ Phần nội dung bao gồm những câu có chỗ để trống (…..) để điền từ thích hợp.
+ Phần cung cấp thông tin gồm những từ hoặc cụm từ cho trước, trong đó số cụm từ phải nhiều hơn số chỗ trống cần điền để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn.
Ví dụ :
Hãy lựa chọn hai trong các từ, cụm từ :
- dùng chất kích thích
- mải chơi
- đánh bạc
để điền vào những chỗ trống trong các câu sau sao cho đúng :
Để phòng, chống tệ nạn xã hội, trẻ em không được............ , uống rượu, hút thuốc và .................. có hại cho sức khoẻ.
- Loại thứ hai : Có thể là những câu phát triển, không có phần cung cấp thông tin với một hoặc nhiều chỗ trống để học sinh phải điền 1 từ hoặc 1 nhóm từ hay kí hiệu thích hợp nào đó. Vì vậy, câu điền khuyết phải viết sao cho mỗi chỗ trống chỉ có một cụm từ được chọn là điền đúng, tránh tình trạng một chỗ trống mà thích ứng với nhiều cụm từ khác nhau, gây khó khăn cho việc chấm điểm, tính khách quan sẽ bị giảm.
Ví dụ :
Hãy điền những cụm từ còn thiếu trong các câu sau cho đúng :
+ Quốc tịch là căn cứ...................................................
+ Người có quốc tịch Việt Nam là công dân.......................................
Lưu ý:
- Bảo đảm mỗi chỗ trống chỉ điền được 1 từ hoặc cụm từ.
- Mỗi câu nên chỉ có 1 hoặc 2 chỗ trống được bố trí ở giữa hay cuối câu. Độ dài của các khoảng trống nên bằng nhau để học sinh không đoán được từ phải điền là dài hay ngắn.
- Hạn chế dùng những câu trích nguyên văn trong sách giáo khoa.
c) Ưu điểm, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
- Ưu điểm :
+ Chấm điểm nhanh, khá chính xác và khách quan.
+ Cung cấp phản hồi nhanh về kết quả học tập của học sinh.
+ Có thể kiểm tra, đánh giá trên diện rộng, trong một khoảng thời gian ngắn.
+ Đánh giá được khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức của học sinh.
+ Góp phần rèn luyện các kĩ năng : dự đoán, ước lượng, lựa chọn phương án giải quyết nhanh…
+ Tạo cơ hội cho học sinh tự đánh giá khi giáo viên công bố đáp án và biểu điểm.
- Nhược điểm :
+ Khó đánh giá những mức độ nhận thức cao hơn của học sinh như phân tích, tổng hợp, đánh giá.
+ Dễ xảy ra lựa chọn theo cảm tính, dễ đoán mò, dễ quay cóp.
+ Khó đánh giá được khả năng tư duy, suy luận, kĩ năng viết, kĩ năng nói… của học sinh.
+ Soạn đề kiểm tra khó, chuẩn bị đề kiểm tra mất nhiều thời gian.
+ Không tạo được điều kiện cho học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn đề.
Vì vậy, khi ra đề kiểm tra, người ra đề cần lưu ý các nhược điểm trên để hạn chế, khắc phục, đồng thời cần có sự kết hợp với câu hỏi câu hỏi tự luận, bài tập tình huống để có được đề kiểm tra tốt.
5.1.3. Bài tập tình huống
Sử dụng bài tập tình huống là rất cần thiết trong việc đánh giá kết quả học tập môn GDCD của học sinh. Vì có thể đánh giá được thái độ, kĩ năng vận dụng kiến thức đã học của học sinh vào những tình huống cụ thể, gần gũi với đời sống của học sinh.
a) Phân loại tình huống : Có nhiều cách phân loại tình huống. Song ở tài liệu này, chúng tôi tập trung vào ba loại tình huống : Tình huống định hướng học sinh nhận xét, đánh giá, tình huống định hướng học sinh đề xuất cách ứng xử, tình huống cho trước cách ứng xử để học sinh lựa chọn cách ứng xử phù hợp.
* Tình huống định hướng học sinh nhận xét, đánh giá:
Ví dụ: Sau buổi học, để về nhà nhanh, Hoàng đã đi vào đường ngược chiều nên bị chú công an viết giấy xử phạt vi phạm hành chính.
Mẹ Hoàng cho rằng chú công an xử phạt như vậy là sai. Vì Hoàng mới 15 tuổi, chưa đến tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính.
Theo em, ý kiến của mẹ Hoàng là đúng hay sai ? Vì sao ?
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 15, lớp 9 : Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí của công dân)
* Tình huống định hướng học sinh đề xuất cách ứng xử :
Ví dụ 1 : Đã một tháng nay, nhà ông Ba có nhiều người lén lút ra vào. Bí mật theo dõi, Hưng biết ông Ba thường xuyên tổ chức đánh bạc và cá độ bóng đá.
Theo em, Hưng nên làm gì?
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 13, lớp 8 : Phòng, chống tệ nạn xã hội)
Ví dụ 2: Mấy hôm nay, Long đang buồn vì cha mẹ li thân thì Dũng nói với vẻ an ủi:
- Khổ thân mày quá ! Thôi tao có cái này giúp mày quên sầu, lại còn có cảm giác lên tiên nữa. Làm một điếu đi !
Long từ chối:
- Thôi tao không dại, nghiện ma túy thì chết.
Dũng cười khẩy:
- Thật non gan, dùng một lần thì nghiện làm sao được.
Long đang lưỡng lự...
Hỏi:
1/ Theo em, Long có thể có những cách ứng xử như thế nào?
2/ Hãy cho biết mặt lợi, mặt hại của từng cách ứng xử đó.
3/ Nếu là Long, em sẽ ứng xử như thế nào ? Vì sao ?
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 13, lớp 8 : Phòng, chống tệ nạn xã hội)
Về cấu trúc : Tình huống định hướng học sinh nhận xét, đánh giá, tình huống định hướng học sinh đề xuất cách ứng xử có cấu trúc, gồm :
+ Nội dung của tình huống (sự kiện, vấn đề... cần giải quyết)
+ Câu hỏi nghiên cứu/câu hỏi định hướng giải quyết tình huống.
* Tình huống cho trước cách ứng xử để học sinh lựa chọn cách ứng xử phù hợp:
- Cấu trúc loại tình huống này thường là :
+ Nội dung của tình huống (sự kiện, vấn đề... cần giải quyết)
+ Các phương án lựa chọn (yêu cầu học sinh chỉ chọn 1).
Ví dụ :
Nếu tình cờ phát hiện có kẻ buôn bán ma tuý, em sẽ lựa chọn cách ứng xử nào sau đây mà em cho là phù hợp nhất ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Lờ đi coi như không biết để tránh bị trả thù ;
B. Không làm gì vì đây là việc làm quá sức với học sinh lớp 8 ;
C. Báo ngay cho cha mẹ, hoặc thầy cô giáo hay người có trách nhiệm biết;
D. Bí mật theo dõi kẻ đó, khi phát hiện ra chứng cứ sẽ báo công an để góp phần phòng, chống ma tuý.
(Bài tập tình huống dùng kiểm tra bài 13, lớp 8 : Phòng, chống tệ nạn xã hội)

b) Các bước để xây dựng một tình huống
- Bước 1 : Xác định nội dung kiểm tra cần bài tập tình huống
- Bước 2: Thu thập thông tin liên quan để viết tình huống
- Bước 3 : Viết tình huống
1/ Phác thảo tình huống
2/ Sửa chữa tình huống
3/ Sử dụng thử, hoặc hỏi ý kiến đồng nghiệp
4/ Hoàn thiện tình huống
* Yêu cầu sư phạm
+ Tình huống phải sát hợp với nội dung bài học, mục đích kiểm tra đánh giá.
+ Tình huống phải hấp dẫn và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh
+ Tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của học sinh
+ Tình huống cần có độ dài vừa phải
+ Tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết.

5.2. Quy trình biên soạn đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Các bài kiểm tra kết quả học tập của học sinh là công cụ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay nhằm cung cấp thông tin cho giai đoạn “thu thập thông tin” của quá trình đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông ở nước ta.
Khi xây dựng các đề kiểm tra cần bảo đảm tính chính xác, thống nhất các yêu cầu cần đạt đối với mọi cá nhân trong cùng một lớp đối tượng cần đánh giá ; đảm bảo độ giá trị, đánh giá đúng theo mục tiêu cần đánh giá ; đảm bảo tính đầy đủ và toàn diện, các nội dung kiểm tra phải có độ phủ rộng để có thể kiểm tra các nội dung, các vấn đề mà mục tiêu dạy học đã đặt ra ; đảm bảo yêu cầu khách quan, kết hợp sử dụng các dạng câu hỏi khác nhau nhằm vào những tiêu chí cụ thể cần đánh giá.
Nhìn chung, quá trình ra đề kiểm tra cần tuân theo quy trình 4 bước sau :
Bước 1 : Xác định mục tiêu, mức độ, nội dung và hình thức kiểm tra
Trước khi ra đề kiểm tra, người ra đề cần đối chiếu với mục đích dạy học để xác định mục tiêu, mức độ, nội dung và hình thức kiểm tra nhằm đánh giá khách quan trình độ học sinh ; đồng thời thu thập các thông tin phản hồi để điều chỉnh quá trình dạy học và quản lí giáo dục.
Bước 2 : Thiết lập bảng 2 chiều - tiêu chí kĩ thuật cho đề kiểm tra (thiết lập bảng 2 chiều đối với đề kiểm tra 45 phút trở lên)
a) Lập một bảng có 2 chiều, trong đó, một chiều thể hiện nội dung, một chiều thể hiện các mức độ nhận thức cần kiểm tra.
b) Viết các chuẩn cần kiểm tra ứng với mỗi mức độ nhận thức, mỗi nội dung tương ứng trong từng ô của bảng.
c) Xác định số điểm cho từng nội dung kiến thức và từng mức độ nhận thức cần kiểm tra.
- Xác định số điểm cho từng nội dung căn cứ vào tổng số tiết quy định trong phân phối chương trình và mức độ quan trọng của nội dung đó.
- Xác định số điểm cho từng mức độ nhận thức để đảm bảo việc phân phối điểm có dạng tương đối chuẩn dựa trên nguyên tắc : mức độ nhận thức cơ bản nên có tỉ lệ điểm số cao hơn hoặc bằng các mức độ nhận thức khác.
d) Xác định số lượng, hình thức cho các câu hỏi trong mỗi ô của bảng hai chiều.
- Xác định thời gian, số điểm tương ứng cho từng phần ;
- Xác định số điểm, số lượng câu hỏi cho từng ô của bảng hai chiều.
- Đối với môn GDCD ở THCS nên bố trí : 30% câu hỏi trắc nghiệm khách quan, 70% là câu hỏi tự luận và bài tập tình huống.
Nhìn chung, càng nhiều câu hỏi ở mỗi nội dung, mỗi mức độ nhận thức thì kết quả đánh giá càng có độ tin cậy cao ; hình thức câu hỏi đa dạng sẽ tránh được sự nhàm chán đồng thời tạo hứng thú, khích lệ học sinh tập trung làm bài.

Cần lưu ý hai vấn đề:
- Số lượng câu hỏi phụ thuộc vào hình thức câu hỏi, số điểm và thời gian dành cho ô tương ứng trong bảng hai chiều.
- Các câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có số điểm như nhau, không phụ thuộc vào mức độ khó, dễ của từng câu hỏi.
Bước 3 : Thiết kế câu hỏi theo bảng hai chiều
Căn cứ vào bảng hai chiều, giáo viên thiết kế câu hỏi cho đề kiểm tra. Cần xác định rõ nội dung, hình thức, lĩnh vực kiến thức và mức độ nhận thức cần đo qua từng câu hỏi và toàn bộ câu hỏi trong đề kiểm tra. Các câu hỏi phải được biên soạn sao cho đánh giá được chính xác mức độ đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ được quy định trong chương trình môn học.

Bước 4 : Xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm
Việc xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm được thực hiện trên cơ sở bám sát bảng hai chiều. Điểm toàn bài kiểm tra học kì tính theo thang điểm 10, làm tròn số đến 0,5 điểm. Điểm của các câu trắc nghiệm được quy về thang điểm 10 (theo quan hệ tỉ lệ thuận).
Lưu ý : Sau khi có kết quả bài kiểm tra của học sinh, người ra đề cần rà soát lại đề một lần nữa, chỉnh sửa những điểm chưa hợp lí để những lần kiểm tra sau đạt chất lượng cao hơn.
5.3. Gợi ý đánh giá kết quả thực hành của học sinh
- Để đánh giá được kết quả học tập của học sinh về các mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ, giáo viên cần sử dụng đa dạng các phương pháp khác nhau với nhiều kết quả học tập cụ thể của học sinh. Có nghĩa là : Ngoài kết quả của bài kiểm tra, giáo viên cần đánh giá thông qua các sản phẩm hoạt động của học sinh như : sản phẩm sưu tầm tư liệu, bài thu hoạch cá nhân, bản kế hoạch ; đánh giá thông qua hoạt động nhóm (đóng vai, lao động công ích...) ; khuyến khích học sinh tự đánh giá.
Để đánh giá thông qua hoạt động của học sinh, cần lưu ý :
- Ở THCS có các dạng thực hành như : điều tra thực trạng, sưu tầm tư liệu, bài thu hoạch cá nhân, lập kế hoạch, thực hiện dự án, sáng tác (thơ, truyện ngắn, vẽ tranh, sáng tác tiểu phẩm)...
- Để có thể đánh giá được kết quả thực hành của học sinh, giáo viên có thể tiến hành như sau :
+ Tổ chức cho học sinh trưng bày sản phẩm tại lớp, hoặc báo cáo trước lớp.
+ Tạo điều kiện cho các em khác trong lớp được phản hồi ý kiến, nhận xét, đánh giá kết quả thực hành của bạn.
+ Giáo viên đánh giá kết quả thực hành của học sinh bằng nhận xét, hoặc cho điểm và công khai kết quả.
- Điểm thực hành nên đưa vào điểm 15 phút.

















PHẦN THỨ BA
HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC TẬP HUẤN Ở ĐỊA PHƯƠNG

I. Hướng dẫn tổ chức tập huấn
Để tổ chức tập huấn thành công cần phải thực hiện các hoạt động sau :
1. Các hoạt động trước tập huấn
1.1. Đánh giá nhu cầu tập huấn
- Mục đích: Giúp xác định nhu cầu tập huấn hiện tại của các học viên (HV) tương lai, những vấn đề họ đang phải đối mặt và nguyên nhân
- Cách đánh giá nhu cầu:
+ Phát phiếu điều tra nhu cầu
+ Phỏng vấn trực tiếp các HV tương lai
+ Quan sát các HV tương lai khi họ đang làm việc
1.2. Thiết kế chương trình tập huấn
Sử dụng kết quả phân tích nhu cầu tập huấn, chúng ta có thể thận trọng thiết kế chương trình tập huấn song phải lưu ý rằng chương trình tập huấn phải có các mục tiêu thực tế và các kết quả cụ thể đáp ứng nhu cầu học tập của HV.
Một chương trình tập huấn phải có những điểm sau đây :
- Mục tiêu tập huấn
Mục tiêu tập huấn phải cụ thể, rõ ràng, có thể đo lường được, có khả năng đạt được, định hướng vào kết quả và giới hạn về thời gian
- Tiêu đề của chương trình tập huấn
Tiêu đề của chương trình tập huấn phải được đặt tên sao cho dễ nhớ, hấp dẫn, rõ ràng, đơn giản, ngắn gọn những đồng thời phải thể hiện được các phần quan trọng của chương trình tập huấn.
- Các chủ đề chính hay nội dung chương trình tập huấn
Khi xác định nội dung hay các chủ đề chính của chương trình tập huấn cần dựa vào kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo. Các chủ đề/nội dung tập huấn phải phản ánh kiến thức, thái độ, giá trị và các kĩ năng cần thiết cho mỗi cá nhân để họ có thể hoàn thành một cách hiệu quả công việc và trách nhiệm được giao. Phải đảm bảo rằng các chủ đề/nội dung tập huấn có thể thu hẹp khoảng cách giữa cái hiện có và cái cần phải có.
- Các hoạt động và phương pháp tập huấn
Các hoạt động và phương pháp tập huấn được mô tả trong thiết kế tập huấn cần phải mềm dẻo, linh hoạt và dễ thay đổi sao cho phù hợp với hình thức học tập đa dạng của HV.
- Các GV
- Đối tượng HV
- Thời lượng tập huấn
Để quyết định thời lượng của chương trình tập huấn cần phải cân nhắc một số điểm sau:
+ Mục tiêu tập huấn
+ Nội dung tập huấn
+ Số lượng HV
+ Thời gian cần thiết để thực hiện các hoạt động tập huấn
+ Thời gian đi lại và điều kiện thời tiết
+ các yếu tố văn hóa và tôn giáo
+ ...
- Địa điểm tập huấn
+ Giá cả phải chăng
+ Đi lại thuận tiện đối với HV
+ Có đủ bàn ghế và có thể sắp xếp theo ý muốn
+ Trang thiết bị phải đủ và hoạt động tốt
+ Phòng học phải rộng rãi, sạch sẽ, thoáng gió đủ để các HV có thể thực hiện các hoạt động tập huấn đòi hỏi sự tham gia
+ Có nhà vệ sinh
- Các nguồn lực cần thiết (nhân lực, tài chính, trang thiết bị,..)
- Các kết quả mong đợi
1.3. Chuẩn bị
- Tài liệu tập huấn (In ấn, photocopi tài liệu tập huấn)
- Tài chính
- Trang thiết bị, văn phòng phẩm cần thiết
2. Tiến hành chương trình tập huấn
2.1. Khai mạc
2.2. Giới thiệu làm quen
2.3. Giới thiệu mục tiêu, nội dung, phương pháp tập huấn
2.4. Xây dựng nội quy lớp học
2.5. Tiến hành các hoạt động tập huấn và tổ chức thực hành
2.6. Tổ chức cho HV xây dựng kế hoạch hành động
2.6. Đánh giá tập huấn
2.7. Bế mạc
3 . Các hoạt động sau tập huấn
3.1. Họp tổng kết, rút kinh nghiệm trong nhóm giảng viên
3.2. Viết báo cáo tập huấn và gửi cho những người có trách nhiệm
3.3. Báo cáo về tài chính
3.4. Các hoạt động tiếp nối
- Giám sát việc thực hiện kế họach hành động của các HV
- Hỗ trợ kĩ thuật sau tập huấn, nếu cần
- …


II. Một số kĩ năng tập huấn
1. Tổ chức trò chơi khởi động và phá băng
Tổ chức trò chơi phá băng thường được sử dụng trong chương trình tập huấn, đặc biệt là vào lúc bắt đầu để tạo ra sự tiếp xúc giữa HV với nhau và với GV. Các trò chơi này còn giúp làm giảm sự ngại ngùng, thiếu tự tin của HV. Nếu thành công các trò chơi này còn làm cho các HV trở nên nhiệt tình, hăng hái tham gia vào các hoạt động tập huấn. Tùy thuộc vào tình huống cụ thể, GV có thể tổ chức các trò chơi đòi hỏi sự tham gia tập thể hay từng cá nhân.
Trò chơi khởi động là hình thức hoạt động có tác dụng kích thích thể xác và tinh thần HV, làm cho họ cảm thấy sảng khoái, tỉnh táo, vui vẻ, thoải mái khi tham gia tập huấn. Trò chơi khở động còn giúp xây dựng tinh thần đồng đội giữa các HV, từ đó tạo dựng được môi trừơng học tập thân thiện, tích cực.
Trò chơi khởi động có hai loại : Trò chơi đòi hỏi sự di chuyển, vận động và trò chơi đòi hỏi phải tư duy.
2. Kĩ năng giao nhiệm vụ
2.1. Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
- Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
- Nhiệm vụ là gì?
- Địa điểm thực hiện nhiệm vụ?
- Thời gian thực hiện nhiệm vụ ?
- Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
- Sản phẩm cuối cùng là gì?
- Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm?
2.2. Nhiệm vụ phải phù hợp với :
- Mục tiêu hoạt động
- Trình độ HS
- Thời gian, không gian hoạt động
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị
3. Kĩ năng đặt câu hỏi
1.1. Tầm quan trọng của việc đặt câu hỏi trong tập huấn
Trong tập huấn theo phương pháp cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HV tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HV; HV cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những nội dung bài học chưa sáng tỏ.
Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HV - GV và HV- HV. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HV càng nhiều; HV sẽ học tập tích cực hơn; việc tập huấn sẽ thành công hơn.
3.2. Mục đích sử dụng câu hỏi trong tập huấn :
- Kích thích, dẫn dắt HV suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HV tham gia vào quá trình dạy học
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HV và sự quan tâm, hứng thú của họ đối với nội dung học tập
- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
3.3. Câu hỏi đóng và câu hỏi mở
a) Câu hỏi đóng
- Là câu hỏi mà câu trả lời là có hoặc không, đúng hoặc sai,… hoặc là câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng.
- Dạng câu hỏi này đòi hỏi các kiến thức các kiến thức thông tin cần được nhớ lại, tái hiện lại
- Dạng câu hỏi này thường được sử dụng để đánh giá
- Hình thức câu hỏi: thường sử dụng cụm từ để hỏi ngắt quãng như:
…đúng…sai? …có…không? …đã…chưa?
b) Câu hỏi mở
- Là câu hỏi có thể đưa ra nhiều cách trả lời và đòi hỏi câu trả lời với nhiều chi tiết hoặc phải giải thích. Dạng câu hỏi này đòi hỏi HV đưa ra ý kiến, quan điểm, quan niệm riêng.
- Câu hỏi này thường được sử dụng để hướng dẫn gợi mở và phát triển tư duy cho HV.
- Hình thức câu hỏi: thường sử dụng những từ để hỏi: như thế nào? Thế nào? Ra sao? Vì sao?...
3.4 . Yêu cầu khi đặt câu hỏi :
- Liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
- Ngắn gọn
- Rõ ràng, dễ hiểu
- Đúng lúc, đúng chỗ
- Phù hợp với trình độ HV
- Kích thích suy nghĩ của HV
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó,từ đơn giản đến phức tạp.
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
4. Kĩ năng tổ chức hoạt động nhóm
4.1. Kĩ năng chia nhóm : Có nhiều cách chia nhóm khác nhau.
- Nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…
- Nhóm theo biểu tượng
- Nhóm theo ghép hình
- Nhóm cùng sở thích
- Nhóm cùng tháng sinh
- Nhóm cùng trình độ
- Nhóm tương trợ
- Nhóm theo giới tính
- Nhóm theo trò chơi “Kết bạn”
- …
4.2. Yêu cầu trong hoạt động nhóm
- Các thành viên trong nhóm nắm vững nhiệm vụ của nhóm và của bản thân
- Các thành viên hướng vào nhau khi trao đổi, chia sẻ, thảo luận
- Mỗi người đều tham gia thực hiện nhiệm vụ
- Các thành viên khác lắng nghe ý kiến của bạn trong nhóm
- Mỗi người đều tuân theo sự điều khiển của nhóm trưởng
4.3. Lưu ý khi tổ chức hoạt động nhóm
- Nhiệm vụ phải vừa sức, phù hợp với thời lượng, cơ sở vật chất, trang thiết bị,…
- Nhiệm vụ của mỗi nhóm có thể giống hoặc khác nhau.
- Cách trình bày kết quả hoạt động nhóm có thể theo nhiều cách.
- GV phải theo dõi nhóm hoạt động, khuyến khích và hỗ trợ khi cần thiết.
- GV cần tạo cơ hội cho HV tham gia vào các nhóm khác nhau với các bạn khác nhau để họ có thể tương tác, học hỏi lẫn nhau.
- Không nên chia nhóm quá đông để tránh tình trạng một số HV ỷ lại kkông tham gia hoạt động.
- Mỗi nhóm nên bầu 1 nhóm trưởng để điều hành chung và thư kí để ghi chép kết quả thảo luận của nhóm.
- HV cần được tự đánh giá kết quả hoạt động của nhóm mình và đánh giá kết quả hoạt động của nhóm khác.
4. Kĩ năng đưa thông tin phản hồi
- Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hưởng tới quá trình học tập.
- Mục đích phản hồi là điều chỉnh, hợp lí hóa quá trình dạy học.
- Yêu cầu khi GV đưa thông tin phản hồi
+ Cảm thông, cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm của HV
+ Tìm hiểu các vấn đề và nguyên nhân của chúng
+ Chỉ tập trung vào những vấn đề giải quyết được trong thực tế
+ Đúng lúc, đúng chỗ
+ Diễn đạt đơn giản, cụ thể và có trình tự
+ Không nhận xét về giá trị
+ Giải thích rõ rằng bạn coi cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến tốt hơn
+ Chỉ ra khả năng để lựa chọn
- Một số kĩ thuật lấy thông tin phản hồi từ HV
+ Sử dụng “Hộp thư”
+ Động não
+ Kĩ thuật 3x3: Mỗi người viết ra
* 3 điều tốt/hài lòng
* 3 điều chưa tốt/chưa hài lòng
* 3 đề nghị cải tiến/đổi mới
+ Kĩ thuật bắn bia
+ …















PHỤ LỤC

I. CƠ SỞ (NGUYÊN TẮC) LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Xuất phát từ đặc trưng của môn GDCD, khi tổ chức dạy học môn GDCD, thầy cô giáo cần dựa trên những cơ sở sau đây:
+ Xuất phát từ mục tiêu giáo dục THCS đã được quy định trong Luật Giáo dục.
+ Căn cứ vào mục tiêu, đặc điểm của môn GDCD.
+ Căn cứ vào đặc điểm của học sinh THCS.
+ Căn cứ vào trọng tâm của từng bài, từng tiết.
+ Căn cứ vào vị trí của từng bài trong logic cấu trúc của chương trình.
+ Căn cứ vào điều kiện trang thiết bị.
+ Căn cứ vào không gian thời gian tổ chức hoạt động dạy học.
+ Phải tích hợp, phối hợp 2 nhóm phương pháp dạy học và giáo dục.
- Nhóm các phương pháp dạy học có thể sử dụng dạy học môn GDCD gồm:
· Thuyết trình (giảng dạy, diễn giảng)
· Đàm thoại
· Kích thích tư duy (động não)
· Thảo luận (theo nhóm nhỏ, cả lớp)
· Phương pháp đóng vai
· Phương pháp giải quyết vấn đề
· Phương pháp tổ chức trò chơi
· Phương pháp thiết kế đồ án
Ở lớp 8 trở lên nên dùng thêm cách thức tổ chức sau đây:
· Tổ chức diễn đàn theo chủ đề
· Tổ chức đối thoại
· Tìm hiểu, nghiên cứu thực tế
- Nhóm phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục:
· Làm gương
· Nêu gương
· Cảm hoá
· Khen thưởng và trách phạt (nhắc nhở, ra lệnh, kiển trách)
· Tổ chức nề nếp sinh hoạt, học tập
· Giáo dục bằng truyền thống.
· Giáo dục bằng viễn cảnh
· Giáo dục bằng tác động song song
· Giáo dục bằng bùng nổ sư phạm
· Giáo dục bằng cái đẹp
· V.v…
- Riêng kiểm tra đánh giá được coi là phương pháp cho cả dạy học và giáo dục Đạo đức. Kiểm tra đánh giá không chỉ là một khâu mà còn được sử dụng trong suốt quá trình dạy học, giáo dục vì chất lượng, hiệu quả không chỉ được đánh giá sản phẩm cuối cùng mà phải được đánh giá quá trình rèn luyện (trong giáo dục).
Đánh giá từng khâu, đánh giá kĩ năng của các thao tác, của năng lực tư duy… là rất quan trọng trong quá trình phát triển con người toàn diện… Đã có những thời kì chỉ kiểm tra đánh giá sản phẩm cuối cùng nên không ít học sinh đi chép bài, nhờ người khác làm (các sản phẩm thủ công, vẽ, …) lại thường được điểm cao, nhưng đó không phải kết quả của quá trình nỗ lực rèn luyện của các em học sinh.



II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC

PGS.TS Hà Nhật Thăng


Rất tiếc là trong giáo trình Giáo dục học ở các trường sư phạm hiện nay chưa quan tâm thoả đáng tới việc giúp sinh viên có hiểu biết về các phương pháp giáo dục thái độ, hành vi, thói quen đạo đức. Không ít thầy cô giáo chưa biết kết hợp giữa phương pháp dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học, cũng như môn GDCD ở THCS và THPT, vì vậy tôi xin giới thiệu tóm tắt một số phương pháp đặc trưng của giáo dục để thầy cô giáo tham khảo khi giáo dục học sinh và dạy học môn GDCD ở trường phổ thông.
Phương pháp giáo dục bằng tác động song song
Để hiểu phương pháp giáo dục bằng tác động song song, trước hết cần biết “phương pháp tác động trực tiếp” còn gọi là “phương pháp tác động tay đôi” là gì?
Phương pháp tác động trực tiếp là nhà giáo dục tác động thẳng tới từng đối tượng được giáo dục bằng chăm lo, săn sóc, khen thưởng, khích lệ, phê bình, khiển trách, kỉ luật hay ra mệnh lệnh buộc phải thực hiện các yêu cầu giáo dục. Hình thức tác động này xuất hiện trong lịch sử giáo dục cùng với sự ra đời hiện tượng giáo dục và dạy học.
“Tác động tay đôi ” là phương pháp giáo dục cá nhân riêng lẻ. Sức mạnh của phương pháp này là quyền uy, cương vị của nhà giáo dục khuất phục, hoặc thuyết phục đối tượng phải tuân theo một cách hài lòng tự giác hoặc không hài lòng, bắt buộc phải thực hiện.
- “Phương pháp tác động song song là gì?”, Makarenkô giải thích như sau: “Chỉ tiếp xúc với đội (tức là tập thể cơ sở), không tiếp xúc với cá nhân riêng lẻ, đó là cách biểu hiện chính thức, còn thực chất đó là hình thức tác động tới chính cá nhân. Nhưng biểu hiện thì lại diễn ra song song với thực chất”
[1].
Theo quan điểm của Makarenkô, tác động song song, về mục đích, là nhằm giáo dục cá nhân, nhưng thông qua tác động của tập thể cơ sở mà trong đó cá nhân sống và hoạt động. Dùng dư luận của tập thể lành mạnh để điều chỉnh hành vi suy nghĩ, hoạt động của mỗi cá nhân. Makarenkô đã tự nhận rằng “thường cố gắng làm thế nào để không phải tiếp xúc với những cá nhân riêng biệt, đó là chính thức. Tôi rất khó chứng minh với các đồng chí về các lôgic này tôi gọi đó là sự tác động song song. Tôi rất khó giải thích vì chưa bao giờ tôi viết vấn đề này, vì thế tôi không tìm và không thể tìm được cách diễn đạt”
[2].
Chúng ta có thể hiểu tác động song song là hình thức tác động gián tiếp tới đối tượng giáo dục thông qua sự tác động của các thành viên trong tập thể cơ sở để các thành viên trong tập thể tác động lẫn nhau.
Makarenkô thường sử dụng phương pháp tác động song song trong ba trường hợp: - Có thể thông qua đội ngũ tự quản. Ví dụ Petrnkô đi làm không đúng giờ, ông gặp đội trưởng đội I và nói “Đội I có người đi làm chậm” để đội trưởng về họp đội I rút kinh nghiệm, nhắc Petrenkô. Hôm sau, lại Petrenkô đi làm muộn. Ông triệu tập cả đội I, ông tuyên bố “ở đội các em Petrenkô đi làm muộn lần thứ 2”. Đội hứa sẽ không xảy ra nữa. Tất nhiên sau đó đội đã họp và bàn mọi cách giúp Petrenkô để không đi làm muộn. Như vậy, Makarenkô đã tác động tới cả đội - tập thể cơ sở. Khi tác động lần thứ 2 là ông đã kết hợp giữa tác động song song và tác động tay đôi. Hiệu quả của tác động toàn đội sẽ mạnh hơn chỉ tác động vào đội trưởng hay đội ngũ tự quản.
Trường hợp thứ ba Makarenkô dùng là mời lên phòng ông uống trà, ông nói về một điều gì đó mà không ám chỉ một ai, hoặc một đội nào, nhưng các em liên hệ và tự đoán ra Makarenkô định nói gì? Hình thức này dùng khi các tập thể cơ sở có đội ngũ tự quản vững vàng, có dư luận lành mạnh, các đội viên có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc chung, Vì vậy, những vấn đề nêu ra của nhà sư phạm không phải là một yêu cầu trực tiếp với tập thể nào, mà chỉ như là một mong muốn, một nguyện vọng, một đề xuất đối với phong trào chung. Hình thức gây dư luận ngẫu nhiênnhư một cái hích để mỗi tập thể cơ sở và cá nhân tìm các biện pháp sáng tạo xây dựng tập thể, thực hiện các mục tiêu giáo dục đặt ra.
Phương pháp tác động song song sẽ tạo ra ảnh hưởng dây chuyền. Đối tượng cần tác động được cả tập thể giám sát, giúp đỡ, quản lí, tập thể phải có trách nhiệm với cá nhân đó, và ngược lại, cá nhân cần giáo dục cũng nhận thấy trách nhiệm trước tập thể cơ sở. Phương pháp này chỉ có thể sử dụng khi tập thể cơ sở đã phát triển đến giai đoạn 2 và giai đoạn 3, nghĩa là những yêu cầu của nhà giáo dục luôn luôn có một lực lượng nòng cốt sẵn sàng giúp đỡ thực hiện, có dư luận tập thể lành mạnh sẵn sàng ủng hộ phần tử tích cực và hành vi tích cực, đồng thời dư luận không tha thứ cho những ai xâm phạm đến truyền thống danh dự cũng như quyền lợi chung của tập thể. Và điều quan trọng là nhà sư phạm phải có uy tín, có kinh nghiệm, được tập thể tin yêu.
Dùng tác động song song có thể đối với cả nhóm, hoặc tập thể cơ sở trong tập thể lớn. Ví dụ nếu nhà sư phạm muốn đập tan một nhóm hay một bè phái có hại, thì không nên tác động trực tiếp tới nhóm mà nên tiến hành tác động toàn tập thể để cả tập thể chú ý tới nhóm, hoặc bè phái dư luận có hại đó.
Có thể nói phương pháp giáo dục bằng tác động song song là phương pháp giáo dục đặc trưng của nền giáo dục XHCN, dựa trên cơ sở mục đích của chủ nghĩa xã hội, xây dựng một xã hội công bằng văn minh, quan hệ người với người là bạn, luôn quan tâm tới sự tiến bộ của nhau.
Tóm lại, tác động song song là phương pháp nhà giáo dục sử dụng sức mạnh của dư luận tập thể nhằm điều chỉnh suy nghĩ, hành động của cá nhân hoặc một nhóm theo yêu cầu giáo dục. Như vậy, là cùng một tác động giáo dục cả tập thể và đối tượng giáo dục đều chịu ảnh hưởng. Vì lẽ đó người ta ví hiệu quả của phương pháp này như một mũi tên bắn hai đích (cả tập thể và cá nhân).
Cần nhớ tác động song song không phải như một số người hiểu là cùng một lúc đối tượng vừa chịu tác động của nhà sư phạm vừa chịu tác động của tập thể. Nếu hiểu như vậy là hiểu theo tác động tay đôi.
Makarenkô cho rằng “Giáo dục Xô Viết là khoa học giáo dục không tác động trực tiếp mà là sự tác động song song”, vì chỉ có phương pháp đó mới phát huy hết ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác của mỗi em trong quá trình tự giáo dục, mới biến quá trình giáo dục thành tự rèn luyện của thế hệ trẻ.
Phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh
Theo Makarenkô, chúng ta có thể hiểu phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh là dựa trên yêu cầu của quá trình giáo dục, căn cứ vào nhu cầu của tập thể và cá nhân, xuất phát từ đặc điểm của tập thể đối tượng, nhà giáo dục giúp cho tập thể xây dựng một hệ thống mục tiêu, một chương trình nội dung, kế hoạch giáo dục, hoạt động, tổ chức thực hiện để đạt tới những dự định đã vạch ra.
Hệ thống viễn cảnh đó bao gồm từ viễn cảnh gần, trung bình đến xa. Điều chủ yếu là nhà sư phạm phải biết biến dự kiến của cá nhân thành mong muốn, thành phong trào của tập thể cơ sở để mỗi thành viên thực hiện một cách tự giác dưới sự điều khiển của đội ngũ tự quản. Có như vậy hệ thống viễn cảnh mới trở thành phương pháp giáo dục.
Viễn cảnh gần là những mục tiêu đơn giản, thời gian thực hiện ngắn, thoả mãn nhu cầu cá nhân, thậm chí đó là những nhu cầu vật chất “có thể bắt đầu từ một bữa ăn ngon hoặc một buổi xem xiếc, nhưng phải luôn luôn gợi ra và mở rộng từng bước những triển vọng của cả tập thể”
[3] và hạn chế những tham vọng vật chất và quyền lợi cá nhân. Nhà sư phạm làm sao giải quyết tốt mâu thuẫn giữa viễn cảnh cá nhân và viễn cảnh của tập thể, phải loại trừ dần những khao khát vật chất, những thói quen tầm thường, sự vui thích vì cá nhân. “chỉ xây dựng những viễn cảnh gần trên nguyên tắc thích thú thì sẽ là một sai lầm lớn, dù ở đây có những yếu tố ích lợi. Theo cách đó chúng ta sẽ tập cho trẻ em quen với một chủ nghĩa hưởng lạc, hoàn toàn không thể chấp nhận được”[4], khi tập thể đã trở thành một gia đình hoà thuận thì mọi hình thức hoạt động tập thể đều được thừa nhận như một viễn cảnh gần vui thích. Một trong những nhiệm vụ của các nhà sư phạm, các cơ quan giáo dục là tổ chức viễn cảnh như vậy, nghĩa là luôn luôn mơ ước đến ngày mai tràn đầy cố gắng và thắng lợi của tập thể. Với ý nghĩa đó, cuộc sống của tập thể sẽ chan chứa niềm vui, niềm vui không phải của sự giải trí, sự thoả mãn chốc lát vì cá nhân, mà là niềm vui của sự cố gắng lao động căng thẳng và tin tưởng vào thắng lợi thành công của tập thể và bản thân trong tương lai.
Cũng nên nhớ rằng hệ thống viễn cảnh gần phải đa dạng, nhiều hình thức và phải thực hiện có hiệu quả. Bản thân của những thành công nhỏ được thực hiện cũng sẽ là nguồn kích thích mạnh mẽ con người trong cuộc sống và hoạt động.
Viễn cảnh trung bình là một dự án kế hoạch tập thể mà thời gian hoàn thành muộn hơn một chút, lâu hơn, đòi hỏi sự nỗ lực chung nhiều hơn như: kỉ niệm một ngày lễ lớn, ngày truyền thống của trường hằng năm v.v…
Khi xây dựng hệ thống mục tiêu, kế hoạch cho viễn cảnh trung bình cần dựa trên quyền lợi chung của tập thể, lấy kích thích tinh thần như danh hiệu, cuộc sống văn hoá, giảm dần kích thích vật chất ngay cả đối với trẻ nhỏ như phấn đấu hoạt động vì sự vui chung của tập thể (một đợt nghỉ hè, thăm quan), kỉ niệm một ngày hội truyền thống của dân tộc hay của một tập thể…, đồng thời nên quan tâm tới mục tiêu xã hội, vì danh dự của tập thể.
Viễn cảnh trung bình là để tiến dần tới viễn cảnh xa.
Viễn cảnh xa là tương lai, tiền đồ của sự phát triển của tập thể lớn, nói rộng ra là tương lai của đất nước của dân tộc mà tương lai của mỗi cá nhân nằm trong đó, đòi hỏi họ phải nỗ lực, cố gắng với ý thức trách nhiệm rất lớn để góp phần thực hiện những dự kiến của đất nước.
Nhà giáo dục cần giáo dục học sinh có nhận thức và họ chủ động xây dựng phương hướng sống, học tập, lao động của cá nhân trên cơ sở yêu cầu của xã hội.
Giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh chính là giúp cho tập thể và mỗi cá nhân xây dựng hệ thống mục tiêu và chủ động thực hiện những dự án với tư cách là người LÀM CHỦ (chủ thể) tích cực của quá trình giáo dục. Thậm chí không cần có sự động viên kích thích của nhà sư phạm. Bản thân hệ thống viễn cảnh có sức mạnh như một động lực thúc đẩy con người vươn tới tương lai.
Cơ sở khoa học của phương pháp giáo dục bằng hệ thống viễn cảnh chính là căn cứ vào đặc điểm ý thức của con người luôn luôn muốn một cuộc sống tốt đẹp. Makarenkô nói: “sự kích thích chân chính của cuộc sống con người là niềm vui ở ngày mai. Trong kĩ thuật giáo dục niềm vui đó là một trong những kích thích cực kì quan trọng của công tác giáo dục. Trước hết phải tổ chức niềm vui, gọi nó đến với cuộc sống ”
[5]. Dù những con người tồi tàn nhất thì họ cũng mong ngày mai phải tốt hơn ngày hôm nay. Phương pháp giáo dục trên còn căn cứ vào đặc điểm của hoạt động trong quá trình hình thành nhân cách. Kết quả của hoạt động là động cơ kích thích hứng thú. Makarenkô căn cứ vào bản chất của quá trình giáo dục giải quyết các mâu thuẫn đa dạng, phức tạp là yếu tố quyết định sự phát triển nhân cách.
Phương pháp giáo dục bằng bùng nổ
Khi giải thích nghệ thuật giáo dục bằng “bùng nổ”, Makarenkô đã viết: “Tôi nói “bùng nổ” không có nghĩa là đặt một gói bộc phá dưới chân một người nào đó, châm ngòi rồi bỏ chạy, để cho người đó nổ tung ra. Tôi muốn nói tới một tác động bất thần làm đảo lộn hoàn toàn mọi ước muốn của con người, mọi nguyện vọng của họ”
[6].
Theo kinh nghiệm của Makarenkô, chúng ta có thể hiểu đó là phương pháp mà nhà sư phạm dùng những tác động mạnh đặc biệt, bất thần tạo ra những chuyển biến về mặt tâm lí, suy nghĩ, thói quen, hành vi xấu, tạo ra những suy nghĩ, những tình cảm hành vi mới theo yêu cầu giáo dục.
Ông đã sử dụng phương pháp này trong việc tiếp nhận những học sinh mới tới trại bằng việc tổ chức đón tiếp thật trọng thể, nghiêm trang, tổ chức đốt quần áo cũ v.v… Ví dụ: Ông đã trao cho Karabanôp đi lĩnh tiền cho trại bằng những bùng nổ liên tiếp: Trao cho giấy giới thiệu, ngân phiếu, cả ngựa, lại cả súng (tưởng chừng như là một sự liều lĩnh) - khi nhận tiền, Makarenkô lại không đếm mặc dù em yêu cầu ông đếm. Rồi ông lại tuyên bố tiếp “từ nay em sẽ là người đi lấy tiền ở ngân hàng cho trại”… Và quả thực từ đó ông trao cho em đi lĩnh thật. Nhờ những tác động mạnh, bất thần, liên tiếp đó đã làm mất đi ở em cái mặc cảm ở trại không ai tin em vì thấy em ăn cắp, phá phách. Nhưng sau những cú bùng nổ của Makarenkô thể hiện lòng tin đối với em, đã làm cho em suy nghĩ và hành động để không phụ lòng tin của ông - chính là niềm tin của tập thể đối với em.
Cần lưu ý là: Theo quan điểm của Makarenkô phương pháp bùng nổ là nghệ thuật giáo dục cá biệt, đối với giáo dục lại là tác động cá nhân. Nhưng kết quả vận dụng của các nhà giáo dục Việt Nam cho thấy đây là phương pháp có thể dùng với cá nhân và tập thể, với cả trường hợp không tốt và cả đối tượng và tập thể tiên tiến. Vì sao vậy? Như chúng ta đã biết giáo dục là một quá trình tích luỹ từ lượng để dẫn tới biến đổi về chất; bằng “bùng nổ” liên tiếp và có hệ thống, có thể đẩy (kích) quá trình giáo dục phát triển nhanh hơn.
Vấn đề quan trọng nhất của việc sử dụng phương pháp “bùng nổ” là chọn thời cơ (thời điểm bùng nổ) chính xác, đúng lúc (bỏ lỡ thời cơ thì không thể bùng nổ). Phải biết chớp thời cơ. Phải xây dựng nội dung bùng nổ một cách hệ thống, liên tiếp, cường độ tác động mạnh theo một ý định. Ví dụ : hình thành tình cảm yêu nghề sư phạm, các nhà giáo Việt Nam đã tạo ra những hoạt động, những tác động mạnh liên tiếp để gây những xúc cảm nghề nghiệp của cá nhân và cả tập thể lớp.
Trên đây chỉ giới thiệu một vài phương pháp giáo dục của Makarenkô. Trên thực tế, Makarenkô sử dụng phương pháp giáo dục rất phong phú, đa dạng. Cần chú ý rằng, theo Makarenkô, không có một phương pháp nào là vạn năng cũng như không có một nhà giáo dục nào đủ tài đào tạo nên những con người mới XHCN, vì vậy, cần kết hợp, vận dụng tổng hợp các phương pháp.
- Tất cả các phương pháp giáo dục, về mục đích là giáo dục nhân cách những con người cụ thể nhưng đều cần tiến hành thông qua tập thể cơ sở (lớp học) và tập thể lớn (trường học, xã hội).
- Đối với phương pháp nào thì vai trò của nhà sư phạm cũng rất quan trọng, đòi hỏi nhà sư phạm phải mẫu mực, có uy tín, có bản lĩnh, giàu kinh nghiệm và lí luận, phải có nhạy cảm sư phạm, linh hoạt, lạc quan và nhân đạo v.v…
III.VÍ DỤ VỀ ĐỀ KIỂM TRA
Đề kiểm tra 45 phút, học kỳ I lớp 8
MA TRẬN ĐỀ
Nội dung chủ đề
(mục tiêu)
Các cấp độ của tư duy
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
A. Hiểu các phẩm chất : lao động tự giác, lao động sáng tạo, giữ chữ tín và tự lập để xác định biểu hiện của các phẩm chất đó

Câu 1 TN
(1 điểm)

B. Dựa vào kiến thức đã học để xác định đúng thế nào là học hỏi văn hoá của dân tộc khác

Câu 2 TN
(0,5 điểm)

C. Hiểu thế nào là góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư

Câu 3 TN
(0,5 điểm)

D. Hiểu thế nào là tình bạn trong sáng, lành mạnh để xác định được biểu hiện trái với tình bạn trong sáng, lành mạnh

Câu 4 TN (0,5 điểm)

Đ. Hiểu thế nào là không tôn trọng người khác

Câu 5 TN (0,5 điểm)

E. Nhận biết thế nào là tôn trọng người khác; nhận xét sự tôn trọng người khác của bản thân hoặc bạn bè trong lớp
Câu 1 TL (1 điểm)

Câu 1 TN
(1 điểm)
G. Biết thế nào là xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư, nêu những việc bản thân có thể làm để góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư
Câu 2 TL (1 điểm)
Câu 2 TL
(1 điểm)

H. Vận dụng kiến thức để giải quyết 1 tình huống về tự lập trong cuộc sống.


Câu 3 TL
(3 điểm)
Tổng số câu
2
6
2
Tổng số điểm
2
4
4
Tỉ lệ %
20%
40%
40%

ĐỀ KIỂM TRA

I. Trắc nghiệm khách quan (3 điểm)
Câu 1: (1 điểm)
Hãy nối mỗi ô ở cột trái (A) với một ô ở cột phải (B) sao cho phù hợp nhất:
A - Biểu hiện
B - Phẩm chất đạo đức
a/ Sản phẩm luôn đảm bảo yêu cầu về chất lượng
1. Lao động tự giác
b/ Vượt qua khó khăn, thử thách tự làm lấy việc của mình.
2. Lao động sáng tạo
c/ Tự học đúng giờ.
3. Giữ chữ tín
d/ Tìm ra cách giải bài tập mới.
4. Tự lập
đ/ Tích cực trong lao động

e/ Luôn đảm bảo hợp đồng với những khách hàng quan trọng.

….. nối với …….. ….. nối với ……..
….. nối với …….. ….. nối với ……..
Câu 2: (0,5 điểm)
Em đồng ý với ý kiến nào sau đây về học hỏi dân tộc khác ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Chỉ những nước kinh tế phát triển mới đáng để nước khác học hỏi.
B. Tiếp thu tất cả những gì mới lạ của nước khác là học hỏi văn hoá của dân tộc đó.
C. Chỉ những nước có nhiều công trình văn hoá lớn mới đáng để ta học hỏi.
D. Một dân tộc còn lạc hậu cũng có bản sắc riêng về văn hoá đáng để ta học tập.
Câu 3: (0,5 điểm) :
Em không tán thành ý kiến nào sau đây về xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Giúp nhau làm kinh tế để xoá đói giảm nghèo là góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
B. Tham gia đội dân phòng là góp phần giữ gìn trật tự an ninh chứ không phải là góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
C. Trồng cây, làm vệ sinh đường phố, làng xóm là thể hiện nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
D. Học sinh dù còn nhỏ cũng có thể tham gia xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
Câu 4: (0,5 điểm)
Nếu nhìn thấy người bạn thân quay cóp bài, em sẽ chọn cách ứng xử nào sau đây ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu em chọn)
A. Làm ngơ coi như không thấy vì không muốn bạn mình bị điểm kém.
B. Đưa tờ nháp của mình cho bạn chép.
C. Báo cho cô giáo biết hành vi đó.
D. Nhắc nhở bạn không nên làm như vậy, nếu bạn vẫn tiếp tục quay cóp sẽ báo cô giáo.
Câu 5: (0,5 điểm)
Hành vi nào sau đây là không tôn trọng người khác ? (hãy khoanh tròn chữ cái trước câu mà em chọn)
A. Nhận xét khuyết điểm của bạn cùng lớp.
B. Chăm chú nhìn người đối diện nói chuyện.
C. Thì thầm với bạn bên cạnh khi đang chơi cùng một nhóm bạn.
D. Mải làm việc, không biết bạn mình đi qua nên không chào.
II. Tự luận (7 điểm)
Câu 1: (2 điểm)
Thế nào là tôn trọng người khác? Em hãy nhận xét ngắn gọn về sự tôn trọng người khác của bản thân hoặc của một số bạn bè trong lớp.
Câu 2: (2 điểm)
Xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư là gì?
Hãy cho biết 4 việc em có thể làm được để góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư.
Câu 3: (3 điểm)
Cho tình huống sau:
Nhà cách trường có 1,5 km nhưng hôm nào Hà cũng được bố đưa đón bằng xe máy. Quần, áo của Hà cũng được mẹ giặt và là (ủi) cho.
Thấy vậy, Thanh hỏi:
- Đã là học sinh lớp 8 rồi mà cậu chưa thể tự đạp xe đến trường và tự giặt, là (ủi) quần áo được à?
Hà hồn nhiên trả lời:
- Bố mẹ có yêu mình thì mới làm như vậy chứ. Chúng mình vẫn còn nhỏ, chăm sóc con là trách nhiệm của cha, mẹ.
Hỏi :
1/ Em có đồng ý với ý kiến của Hà không? Vì sao?
2/ Nếu là bạn thân của Hà, em sẽ nói với Hà điều gì?

ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN CHẤM

I. Trắc nghiệm khách quan (3 điểm)
Câu 1: (1 điểm) mỗi kết nối đúng cho 0,25 điểm:
- a/ nối với 3 ; b/ nối với 4 ; c / nối với 1 ; d / nối với 2.
Câu 2: (0,5 điểm)
Khoanh tròn chữ D.
Câu 3: (0,5 điểm)
Khoanh tròn chữ B.
Câu 4: (0,5 điểm)
Khoanh tròn chữ D.
Câu 5: (0,5 điểm)
Khoanh tròn chữ C.

II. Tự luận (7 điểm)
Câu 1: (2 điểm)
Yêu cầu học sinh nêu được:
- Tôn trọng người khác là sự đánh giá đúng mức, coi trọng danh dự, phẩm giá và lợi ích của người khác, thể hiện lối sống có văn hoá của mỗi người. (1 điểm)
- Nhận xét ngắn gọn về sự tôn trọng người khác của bản thân hoặc của một số bạn bè trong lớp ( có thể là tốt hoặc chưa tốt) (1 điểm)
Câu 2: (2 điểm)
Câu này có 2 yêu cầu:
- Nêu được: Xây dựng nếp sống ở cộng đồng dân cư là làm cho đời sống văn hoá tinh thần ngày càng lành mạnh, phong phú như giữ gìn trật tự an ninh, vệ sinh nơi ở; bảo vệ cảnh quan môi trường sạch đẹp; xây dựng đoàn kết xóm giềng; bài trừ phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan và tích cực phòng chống các tệ nạn xã hội. (1 điểm)
- Nêu được 4 việc học sinh có thể làm để góp phần xây dựng nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư. (1 điểm)
Ví dụ như :
+ Tham gia làm làm vệ sinh đường làng (hoặc ngõ phố).
+ Quan tâm, đoàn kết với các bạn cùng xóm/phố.
+ Tham gia tuyên truyền phòng, chống ma tuý ở xóm/phố .
+ Tham gia giữ gìn trật tự an ninh xóm/phố.
+ Lao động giúp gia đình neo đơn, khó khăn.
V.v…
Câu 3: (3 điểm)
Học sinh có thể có cách diễn đạt khác nhưng cần nêu được những ý cơ bản sau:
1/ Không đồng ý với ý kiến của Hà. (0,5 điểm)
Vì :
- Bố mẹ yêu thương con thì con cũng phải biết thương yêu bố mẹ, cần phải cố gắng để bố mẹ đỡ vất vả vì mình. (0,5 điểm)
- Đã là học sinh lớp 8 thì không còn nhỏ nữa, mỗi chúng ta đều có thể tự đi đến trường, tự giặt, là (ủi) quần áo. (0,5 điểm)
- Bố mẹ yêu thương chăm sóc mình nhưng mình cũng phải biết tự lập.
(0,5 điểm)
2/ Khuyên Hà: Nên tự đi đến trường, tự giặt, là (ủi) quần áo để rèn luyện tính tự lập và để bố mẹ đỡ vất vả. (1 điểm)

[1] A.S. Makarenkô, Tuyển tập giáo dục, tập 1 (tiếng Nga), NXB Matxcơva, 1977, tr 312 - 313.
[2] A.S. Makarenkô, Tuyển tập giáo dục, Sđd, tr 312 - 313.
[3] A.S. Makarenkô, Giáo dục trong thực tiễn, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1976, tr 299.
[4] A.S. Makarenkô, Giáo dục trong thực tiễn, Sđd, tr 299.
[5] A.S. Makarenkô, Giáo dục trong thực tiễn, Sđd, tr 296.
[6] A.S. Makerenkô, Mấy bài học kinh nghiệm của tôi, Báo cáo tại Viện nghiên cứu khoa học thực hành các trường đặc biệt và các trại trẻ mồ côi năm 1938 trong cuốn Một số kinh nghiệm giáo dục của A.S. Makarenkô, Nxb Giáo dục, 1974, tr 8.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét